Ngôn ngữ

Tìm kiếm

7/9/2010   
MỘT VÀI KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CHỮ NÔM TRONG TỰ ĐỨC THÁNH CHẾ TỰ HỌC GIẢI NGHĨA CA  
(11/6/2009)

Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca (1) do vua Tự Đức biên soạn là một bộ tự điển song ngữ Hán - Nôm giá trị. Gần đây bộ sách này một lần nữa lại được giới nghiên cứu quan tâm đặc biệt và nghiên cứu ở nhiều phương diện, như văn bản học, tự điển học, ngôn ngữ học... Tiếp tục trào lưu đó, chúng tôi đã mở rộng phạm vi nghiên cứu, xem chữ Hán, chữ Nôm trong bộ sách là đối tượng nghiên cứu trực tiếp dưới góc độ văn tự học, bước đầu tổng kết được một số kết quả như sau:


1. Vấn đề văn bản và tình hình chữ Hán, chữ Nôm:

1.1. Về văn bản và bố cục: Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca - là một văn bản không có dị bản, có 9 bản in với 2 lần in vào các năm Thành Thái 9 và Thành Thái 10, qui trình biên tập và in ấn khá qui củ. Các bản Tự học giải nghĩa ca hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện NCHN: lưu giữ 9 bản in bộ 13 quyển, có mục lục, có chữ Hán:

- VHv.626/1 - 4; VHv.627/1 - 4; VHv.628/1 - 4; VHv.629/1 - 4; VHv.630/1 - 4; VHv.631/1 - 4; VHv.363/1- 4. In năm Thành Thái 9 (1897), 610 tr 28 x 18. Các bản VHv.626 đến VHv 631 đều cùng một ván khắc, giấy lệnh hội. Riêng VHv.626 ngay đầu sách có sắc chỉ của nhà vua cho in sách, cùng các bài biểu do bề tôi phụng soạn, giấy còn mới, có thể in muộn hơn nhưng vẫn cùng một ván khắc với các bản VHv.627 - VHv.631.

- AB.5/1 -2 in năm Thành Thái 10 (1898), 602 tr 28 x 17.

- AB.311 in năm Thành Thái 10 (1898), 144 tr 29 x 17 (chỉ còn từ quyển 7 đến quyển 9).

- Chữ Hán trong cuốn sách này được phân chia làm 7 môn loại (gồm: Kham dư, chính hóa, nhân sự, khí dụng, thảo mộc, cầm thú trùng ngư), mỗi môn loại lại chia thành thượng và hạ (trừ môn loại cầm thú và trùng ngư), riêng môn loại nhân sự có thêm phần trung.So với số lượng môn loại trong các sách cùng thể loại là không nhiều, nhưng được sắp xếp hợp lí, vốn chữ Hán được thích nghĩa ở từng môn loại phong phú, tập hợp nhiều chữ khó.

1.2. Về dung lượng chữ Hán - chữ Nôm: Cuốn sách có tổng cộng 4572 câu lục - bát (có 1 câu 9 chữ), tổng số lần xuất hiện của chữ Hán và Nôm là 32005 (lần) chữ. Tổng số mục chữ Hán được giải nghĩa là 9028. Tổng số chữ Nôm là 4458 chữ, với 21334 lần xuất hiện. Theo số liệu nghiên cứu của Tìm hiểu loại hình sách song ngữ Hán Nôm dạy chữ Hán qua nghiên cứu tam thiên tự giải âm (2) thì số mục từ Hán được giải nghĩa trong các tự - từ điển Hán - Nôm như sau: Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa : 3.394 mục từ, Đại Nam quốc ngữ : 4.779 mục từ, Nam phương danh vật bị khảo: 4.461 mục từ, Nan tự giải âm: 1.066 chữ, Ngũ thiên tự: khoảng 5.000 chữ, Nhật dụng thường đàm: 2.560 mục từ, Tam thiên tự giải âm: 2.988 chữ, Thiên tự văn giải âm: khoảng 1.000 chữ. Riêng Tự học giải nghĩa ca, tác giả luận văn chỉ thống kê phần Kham dư loại được 727 mục từ, và lấy con số này để ước lượng chung số lượng cho cả cuốn sách là 9.500 mục từ; trong khi kết quả thống kê cụ thể của chúng tôi là 9.028 mục từ Hán (không kể 3 mục từ lặp lại) với 9.827 chữ Hán, được giải nghĩa.

Như vậy, có thể khẳng định Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca là quyển tự điển Hán - Nôm có dung lượng đồ sộ nhất trong các sách song ngữ Hán Nôm dạy chữ Hán của người Việt. Với vị trí đó, cuốn từ điển này là tài liệu tham khảo quí báu và không thể thiếu đối với các nhà từ điển học Hán Nôm riêng và từ điển tiếng Việt nói chung.

1.3. Về vấn đề giải nghĩa chữ Hán: Trong cách giải nghĩa chữ Hán, tác giả cuốn tự điển đã lựa chọn 2 cách giải nghĩa, là cách giải nghĩa giải thích và cách giải nghĩa đối dịch. Sử dụng cả 2 cách giải nghĩa này để giải nghĩa cho những chữ Hán vốn khô cứng, lại thuộc các phạm trù khác nhau nhưng vẫn đạt được sự uyển chuyển linh hoạt trong mỗi vần mỗi câu mặc dù chịu hệ luỵ bởi tính chất vần điệu của thể lục bát vần như thanh điệu, láy vần.

Việc chọn nghĩa để thích nghĩa cho chữ Hán trong Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca cũng có những đặc trưng riêng: mỗi chữ Hán chỉ được thích bằng một nghĩa duy nhất, các nghĩa được chọn này phần nhiều dựa vào Khang Hi tự điển. Chữ Hán được chọn để giải nghĩa trong cuốn sách này phản ánh một số lượng chữ khó, ít được sử dụng, ngay cả số chữ không thấy xuất hiện trong Khang Hi tự điển cũng khá nhiều.

2. Giải mã toàn bộ chữ Nôm trong văn bản:

2.1. Vấn đề cấu tạo chữ Nôm: Chữ Nôm trong cuốn sách có đủ các loại cấu tạo (theo tiêu chí phân loại mà GS.Nguyễn Tài Cẩn đưa ra trong Một số vấn đề về cấu tạo chữ Nôm, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HN.1985), gồm 10 tiểu loại, lần lượt là:

- Chữ Nôm ghi âm Hán Việt: A1

- Chữ Nôm ghi âm cổ Hán Việt và Hán Việt Việt hoá:A2

- Chữ Nôm mượn nghĩa chữ Hán: B

- Chữ Nôm mượn âm Hán Việt chính xác: C1

- Chữ Nôm đọc chệch âm Hán Việt: C2

- Chữ Nôm có kí hiệu phụ: D

- Chữ Nôm ghép âm - âm: Đ

- Chữ Nôm ghép ý - ý: E

- Chữ Nôm ghép ý - âm (bộ với chữ): G1

- Chữ Nôm ghép ý - âm (chữ với chữ: G2

Với Bảng tổng hợp số liệu (3)cụ thể như sau:

STT

Loại

cấu tạo

Số lượng

Số lần xuất hiện

SLXH

trung bình

Số chữ

Tỉ lệ % (làm tròn)

SLXH

Tỉ lệ % (làm tròn)

1          

A1

1830

41,04

5212

24,43

2,87

2          

A2

135

3,02

970

4,54

7,34

3          

B

9

0,20

260

1,21

26,00

4          

C1

251

5,63

1271

5,95

5,04

5          

C2

268

6,01

2824

13,23

10,15

6          

D

260

5,84

497

2,32

1,91

7          

Đ

2

0,04

3

0,01

3

8          

E

2

0,04

85

0,39

42,50

9          

G1

1574

35,30

8839

41,43

5,61

10       

G2

127

2,84

1373

6,43

10,56

11       

Tổng

4458

~100

21334

~100

~100

 

10 loại cấu tạo nhỏ này có thể phân làm 2 loại lớn là: Chữ Nôm vay mượn: 2493 chữ (chiếm 55,93%), Chữ Nôm chữ tự tạo: 1965 chữ (chiếm 44,07%).

Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca là cuốn sách có số lượng chữ Nôm nhiều nhất trong hệ thống sách song ngữ Hán - Nôm dạy chữ Hán.

2.2. Việc sử dụng chữ Nôm: Số lượng chữ Nôm vay mượn và chữ Nôm tự tạo có tỉ lệ chênh lệch là 1,26%. Tổng số lần sử dụng của loại chữ tự tạo là 11637 và loại chữ vay mượn là 10537, có tỉ lệ chênh lệch là 1,1%.

Chữ Nôm hình thanh (loại chữ có một thành tố gợi ý và một thành tố gợi âm đọc G1, G2) chiếm đa số trong loại chữ tự tạo, số lượng chữ Nôm G1 chỉ đứng sau loại A, chữ Nôm ghép âm - âm và ý - ý rất hạn hữu, không có hiện tượng dùng hai chữ Nôm để ghi một âm tiết tiếng việt... Điều này, một mặt chứng tỏ sự điều chỉnh của chữ Nôm; mặt khác thể hiện xu hướng ổn định trong cấu trúc chữ Nôm ngày càng rõ rệt, xu hướng sử dụng ngày càng nhiều chữ Nôm tự tạo đã làm cho chữ Nôm ổn định trong cấu trúc và chính xác trong âm đọc; cũng là chứng tỏ sự sáng tạo, linh hoạt của người Việt trong việc sử dụng ngôn ngữ và chữ viết (chữ Nôm).

Sự rút ngắn tỉ lệ chênh lệch giữa hai loại chữ vay mượn và tự tạo và việc tỉ lệ chữ tự tạo tăng cao so với các văn bản thời kỉ trước, thể hiện xu hướng biểu ý của chữ Nôm ngày một rõ rệt. Đó là một đặc điểm và cũng là một thành tựu của quá trình vận động chữ Nôm trong Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca.

Vấn đề sử dụng chữ Nôm ghi phương ngữ cũng là một đặc sắc. Với số lượng không nhiều - 61 đơn vị chữ, chứng tỏ cuốn tự điển không hướng vào ngôn ngữ của đời sống hàng ngày. Một số chữ Nôm ghi phương ngữ lại được sử dụng nhiều lần, như chữ ngó xuất hiện 73 lần chỉ trong phần Kham dư loại (thượng) cũng cho thấy một số phương ngữ đã ăn sâu vào ngôn ngữ nói trong triều đình và ngôn ngữ viết sách vở...

3. Chữ Nôm trong Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca trong tiến trình diễn biến, phát triển và chuẩn hóa chữ Nôm ở thời Nguyễn:

3.1. Sự điển chế của chữ Nôm qua “Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca”: Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca không mang tính chất một tác phẩm văn học mà là một bộ tự điển dạy - học chữ Hán qua chữ Nôm. Bản thân tên gọi “Thánh chế” có thể xem nó trong mối quan hệ với vấn đề chính xác hoá lối viết cho chữ Nôm Việt. Vấn đề lai lịch cuốn sách là cơ sở đầu tiên cho nhận định đó, bởi nguồn gốc cuốn sách là cơ sở để đánh giá về tính tin cậy và qui phạm của chữ nghĩa trong đó; kế đến là các vấn đề cụ thể về bản chất cấu trúc và thực tế sử dụng văn tự.

Về lai lịch: ngay bản thân tên gọi của cuốn sách đã cho thấy đây là một cuốn tự điển do vua Tự Đức làm và đã được “Thánh chế”. Tác giả cuốn sách là một vị vua nổi tiếng hay chữ, rất chuộng Nôm của triều Nguyễn. Cuốn sách được một hội đồng kiểm duyệt, thẩm định là những nhà Hán học đỗ đạt. Công việc khắc in, nhân bản được thực hiện bởi một đội ngũ các nhà chuyên môn của triều đình và được kiểm đính theo một qui trình nghiêm ngặt. Điều đó đảm bảo cho Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca có một diện mạo chuẩn mực, điển phạm và một vị trí chính thống.

Về cách thức thể hiện: đây là một bộ tự điển dạy chữ Hán bằng cách dùng chữ Nôm giải nghĩa chữ Hán - đây là cách làm không mới mà đã có truyền thống từ các thế kỉ trước. Thông qua cách làm này tác giả muốn "định dạng" cho chữ Nôm một lối viết ổn định - tiến tới cố định nhất nhằm phổ biến chữ Nôm được thuận tiện.

3.2. Chữ Nôm của “Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca” có một vị trí xác định trong tiến trình chữ Nôm Việt: Vua Tự Đức là người tạo chữ Nôm nhiều nhất, xứng đáng được coi là một trong những tác gia chữ Nôm lớn nhất. Những trước tác chữ Nôm của ông nói chung và Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca nói riêng là một thành quả xuất sắc. Tính điển chế của chữ Nôm thể hiện ngay trong định tố “Thánh chế” của nó; mặc dù tất cả những cố gắng đó là hơi muộn và chưa đủ để gây ra một bước đột phá lớn về văn tự.

Đến đây, chúng ta thử đặt lại vấn đề, nếu cuộc kháng Pháp của triều đình nhà Nguyễn thắng lợi, tờ sớ của Nguyễn Trường Tộ (ngày 20 tháng 10 năm Tự Đức 20 (1867) học giả Nguyễn Trường Tộ đã viết Tế cấp bát điều dâng lên triều đình, đưa ra kiến nghị cải cách chữ Nôm, hòng khiến cho chữ Nôm trở thành văn tự chính thức thống nhất) được triều đình chấp nhận và có thời gian để triển khai, thì chữ Nôm, hay văn tự dân tộc, sẽ đi đến đâu? Tất yếu, lịch sử xã hội (nói chung), hay là lịch sử văn tự (nói riêng) đều chịu tác động bởi những qui luật riêng của nó. Chữ Nôm, theo qui luật phát triển chung của loại hình văn tự khối vuông, sẽ sản sinh (theo cách thức "đặt chữ" vốn có) hay cải biến, phát triển, hoàn thiện và ổn định - liệu chữ Nôm có trở thành văn tự chính thức, duy nhất được sử dụng rộng rãi (thời điểm này chữ quốc ngữ chưa xuất hiện), thay thế hoàn toàn chữ Hán trong toàn quốc hay không? Và, về sau khi đã được điển chế, chữ Nôm với hình thể cồng kềnh và phức tạp của một loại văn tự khối vuông có đủ linh hoạt để gánh vác trọng trách của mình là ghi tiếng Việt, tiếng Việt của hàng chục thế kỉ (tiếng Việt ở đây được hiểu chính xác là tiếng Việt khi đã tách khỏi Việt Mường chung) và tiếng Việt phổ thông của thế kỉ XIX đã rất uyển chuyển, tinh tế và giàu sắc thái biểu đạt; hơn nữa, tiếng Việt lúc này được đặt trong hoàn cảnh mới, của xu thế giao lưu, tiếp biến với bên ngoài, đặc biệt là với phương Tây và ngôn ngữ Latinh hóa. Đó là một giả định, khó có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng. Nhưng thực tế, đã không xảy ra như vậy, (giữa thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lược Việt Nam đồng thời thi hành chính sách ngôn ngữ của chủ nghĩa thực dân, làm cho chữ Nôm ngày một suy yếu và tiêu vong, cuối cùng bị chữ Quốc ngữ  Latinh hoá thay thế).

Dẫu sao thì với những cố gắng của Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn đối với chữ Nôm đã có những thành tựu nhất định. Những trước tác chữ Nôm của ông nói chung và Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca nói riêng là một thành quả xuất sắc; vai trò, vị trí của nó với việc chuẩn hóa, phát triển chữ Nôm là điều xứng đáng được ghi nhận.

Vấn đề là, tương lai của chữ Nôm (hiện nay) rồi sẽ ra sao? Người ta có trách nhiệm phải tự vấn về nó, và có quyền nghĩ đến một viễn cảnh khả dĩ hơn. Lúc này, chúng ta đang cố gắng bằng những biện pháp có thể để phục hồi, vãn hồi, giữ gìn, bảo tồn thứ văn tự (hiện không còn được dùng trong trước tác và đời sống xã hội nữa) - vốn cổ này. Thực tế là chữ Nôm đang được dạy trong chuyên ngành Hán Nôm ở 3 trường đại học trong cả nước và ở các khoa ngữ văn của một số trường đại học sư phạm (hiện kết quả đến đâu thì chưa dám bàn đến). Có một thực tế khác là, thực trạng dạy - học, sử dụng tiếng Việt của người Việt hiện nay ở một số bộ phận, đang rơi vào thảm trạng. Tìm hiểu, nghiên cứu và bảo tồn chữ Nôm cũng là từ đó có ý thức trong sử dụng và phát huy vị thế của tiếng Việt trong giao lưu quốc tế, trước xu thế lấn át của các ngôn ngữ nước ngoài và lối sính ngoại - ngoại ngữ của không ít người Việt hiện đại, tiến tới định hình những bước hoạch định mang tầm quốc gia cho bước đi của "tiếng mẹ" chúng ta. Những nghiên cứu về chữ Nôm trong Tự Đức Thánh chế Tự học giải nghĩa ca trên đây chỉ là những bước đầu tiên, tạo tiền đề cho những bước đi tiếp sau, góp vào cố gắng chung đó của xu thế bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

-----------------------------------

CHÚ THÍCH

[1] Trong một số bài nghiên cứu về chữ Nôm trong Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca mà tác giả công bố trước đây, đã lần lượt đề cập đến những vấn đề có liên quan. Bài viết này là sự tổng kết, đánh giá và kết luận cuối cùng của tác giả về cuốn sách và những vấn đề về cấu trúc chữ Nôm, việc sử dụng chữ Nôm… cũng như tính điển hình của chữ Nôm có trong đó.

[2]  Nguyễn Thị Lan, Luận văn Thạc sĩ Hán Nôm, Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội.

[3] Những số liệu trong Bảng tổng hợp này được trình bày trong Luận văn Thạc sĩ Hán Nôm “Chữ Nôm trong Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca”, đã được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận văn Thạc sĩ - ĐHQG Hà Nội ngày 28 tháng 12 năm 2006. Sau khi đối sánh với số liệu đã công bố trước đó trong bài viết với tiêu đề “Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca và vấn đề chuẩn hoá chữ Nôm thời Nguyễn”, Hội thảo Quốc tế về chữ Nôm, Huế 2006; chúng tôi đã có điều chỉnh nhỏ một vài chỗ. Vậy xin lấy những số liệu trong bài viết này làm số liệu chính thức.

ThS Hà Đăng Việt, Khoa Việt Nam học, ĐHSP Hà Nội
In bài Gửi bài cho bạn
Các tin đã đưa:
  • CUỘC ĐẤU TRANH CỦA HAI PHE CHỦ CHIẾN - CHỦ HÒA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG PHÁP XÂM LƯỢC (1858 – 1888) (08/07/2009)
  • Quảng tập viêm văn (24/10/2006)
  • Giảng văn truyện Tấm Cám (06/10/2006)
  • Chiếc nón Việt Nam (23/08/2006)
  • Tìm hiểu và giải mã biểu tượng giếng làng trong văn hoá làng quê của người Việt (23/08/2006)
  • Trống đồng Đông Sơn, một góc nhìn văn hóa (23/08/2006)
  • Đánh giá tiềm năng du lịch Côn Sơn (23/08/2006)
  • Tìm hiểu phong tục tiếp khách của người Ê Đê qua sử thi Đam Săn (23/08/2006)
  • Định kiến xã hội trong tác phẩm “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao (23/08/2006)
  • Địa danh Hà Nội qua ca dao (22/08/2006)
  • Tìm hiểu hội đua thuyền đền Quát (22/08/2006)
  • Giá trị văn hóa đình làng Hưng Lộc (Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nam Định) (22/08/2006)
  • Những phong tục và hủ tục ở nông thôn trong hai tác phẩm "Việc làng" và "Tập án cái đình" của Ngô Tất Tố (22/08/2006)
  • Những sinh hoạt văn hoá dân gian trong Thơ mới (22/08/2006)
  • Hình tượng những nhân vật nữ trong truyện ngắn trước Cách mạng tháng Tám của Nam Cao (22/08/2006)
  • ALBUM ẢNH 
    Chùa Thầy
     
     
    Lịch tập trung ôn thi hệ liên thông khóa 2
     
    ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG SỰ TRUYỀN BÁ CÔNG GIÁO VÀO VIỆT NAM VÀ PHILIPPIN


    Bản quyền thuộc Khoa Việt Nam Học
    Thiết kế và phát triển bởi C.I.S