 | | Đêm Nam Ninh |
Đáp thuyền thẳng tới huyện Ung Ninh
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình
Ngày xưa, mỗi lần học thơ Hồ Chí Minh, thế nào cô giáo cũng phải đọc lên câu thơ này, gợi cho chúng tôi nghĩ về một vùng đất quê xa xôi nào đó, yên bình, mơ mộng, nơi từng có một người tù quên cả cảm giác bị đối xử như không phải là người.
Bây giờ, đó là thành phố Nam Ninh, thủ phủ tỉnh Quảng Tây. Lúc lên đường, chẳng hiểu sao thầy giáo đưa tiễn lại dặn:
- Qua châu Ung châu Ninh, cẩn thận mẹ mìn đó!
Thầy tôi lúc nào cũng bận tâm chuyện đại sự: chắc thầy lo vụ chính quyền Trung Hoa mới quyết định lập thành phố Tam Sa ngoài biển Đông. Tôi qua thành phố Nam Ninh lúc mọi chuyện rắc rối đang rục rịch. Nhưng việc đi cứ phải đi: tôi đã đăng ký với Học viện dân tộc Quảng Tây để thi lấy chứng chỉ ngoại ngữ Hoa ngữ. Đến hẹn phải đi…
* * *
Thành phố Nam Ninh cách nay nửa thế kỷ thầy giáo tôi “trọ học” chỉ to bằng thành phố Nam Định thời thuộc Pháp. Nay vật đổi sao rời, với diện tích gần 2000km2, Nam Ninh có khoảng sáu triệu dân (kể cả ngoại thành). Riêng khu Đại học Quảng Tây nằm cách trung tâm thành phố chừng mười cây số thì riêng sinh viên đã là 50 nghìn người (trong một không gian khoảng 307 hecta). Trong khuôn viên nhà trường, mọi người đi lại bằng xe đạp, xe máy điện, xe buýt điện (mỗi lần lên xuống mất 1 tệ (bằng khoảng 2.200VNĐ)), nếu “sang” hơn thì đi xe đạp ba bánh – thực ra nên gọi nó là xe “lai” vì nó nửa giống xe lam (về hình thức cấu tạo), nửa lại giống xích lô (vì phải có người còng lưng đạp) với giá từ 2 - 4 tệ. Đầy ấn tượng là những hồ nước mênh mông. Ngày trước, đó là những cái ao người dân trữ nước vừa để thả cá, vừa để lấy nước rửa ráy, vừa lấy đó làm nước ăn. Tại vì vùng này đất toàn sỏi đá. Nước ở đây rất hiếm. Vẫn thầy giáo tôi kể, dân vùng này để “ngỏ cửa” các nhà vệ sinh cho ruồi nhặng đẻ trứng, sau đó họ vớt lấy những con mồi nhung nhúc ném cho cá ăn. Được cái ao rất rộng, nên nước vẫn không vẩn đục lắm. Và người ta vẫn lấy nước đó về để ăn. Bây giờ đó đã là những cái hồ mênh mông sâu thẳm, bên bờ liễu rủ, đường đi quanh co dưới những bóng cây mát rượi, là nơi thư giãn của sinh viên sau mỗi giờ lên lớp. Em không thấy ai ném gì cho cá, thầy ơi!
Cô giáo Cẩm Anh là người đã qua Việt Nam làm luận án Thạc sĩ (đề tài về người nông dân trong Văn học qua Nam Cao và Lỗ Tấn), nay lại đang học bậc tiến sĩ. Cẩm Anh mời tôi về nhà cô ở. Căn hộ của cô rộng khoảng 35m2, là căn hộ thuê của trường với giá ưu đãi cho giáo viên trẻ (tất cả giáo viên và sinh viên đều có chỗ ở trong trường). Khu nhà cô ở cũng là khu nhà cũ (càng công tác lâu năm càng được ưu tiên những khu mới), nhưng đủ để không bao giờ phải biết lo thuê nhà, chuyển nhà và mệt mỏi với cảm giác “không an cư”.
Trong lúc chờ đợi làm thủ tục và chờ ngày thi Hoa ngữ, tôi được cô giáo Cẩm Anh mời dạy mấy tiết cho sinh viên của cô. Đó là các sinh viên năm thứ nhất của khoa Tiếng Việt (thuộc Học viện ngoại ngữ). Cả lớp có 28 em, trong đó có 3 em thuộc diện đặc biệt: gia đình nghèo, không đủ tiền cung cấp cho các em, vì thế các em được ưu đãi của nhà trường như không mất tiền học phí, tiền Kí túc xá, mỗi tháng được trợ cấp thêm 100 đồng, lại được nhà trường thuê làm thêm (những công việc nhẹ nhàng như quét dọn, rửa bát) để kiếm thêm được 200 đồng nữa. Thế là đủ chỗ ăn ở học hành cho đến hết 4 năm đại học. Sinh viên được sống trong một điều kiện tương đối đầy đủ: giảng đường mở cửa suốt đêm, thư viện hiện đại (mượn sách giống như đi siêu thị mua hàng, hệ thống quẹt rất nhanh, gọn, không tốn phiếu yêu cầu). Khuôn viên trường chia làm 2 khu, Đông và Tây, khu nào cũng có nhiều nhà ăn (cũng quẹt thẻ, không dùng tiền mặt), có siêu thị, chợ, nhà sách, khu luyện tập thể thao (rộng và đầy đủ dụng cụ), thậm chí có cả ngân hàng… Các bạn sinh viên đưa tôi đi chụp ảnh, dẫn tôi đến nhà ăn, mỗi người quẹt thẻ đãi cô giáo một món, món ngon nhất mà tôi nếm là trứng tráng, nó gợi nhớ hương vị một thủa hàn sĩ đã xa...
* * *
Sau buổi thi tiếng Hoa, tôi được giáo sư Nguyễn, Bí thư Học viện Văn hoá và Tuyên truyền mời tới tiếp xúc. Đây là học viện có quy mô tương đối lớn của trường, đào tạo các chuyên khoa hẹp là Văn hóa, văn học và Báo chí (Giống như mô hình khoa Việt Nam học của tôi). Bí thư học viện là một phụ nữ trẻ hơn cái tuổi 39 của bà, nhẹ nhàng và lịch sự, với một bàn tay mềm và ấm, bà đón tiếp tôi, hỏi về nơi giảng dạy, chuyên môn giảng dạy và mời cộng tác, tham gia đề tài do các giáo sư Văn khoa chủ trì. Đó là các đề tài về tiểu thuyết Hán văn Việt Nam và về Văn học đương đại Việt Nam. Một đề tài trong phạm vi môn học tôi giảng dạy, và một đề tài tôi có nhiều tìm tòi, trăn trở, hứng thú. Tôi đề nghị các giáo sư Văn khoa hãy thử sức tôi trước khi quyết định chính thức. Tôi gợi ý mình sẽ dịch hai truyện ngắn “Cải ơi” của Nguyễn Ngọc Tư và “I am đàn bà” của Y Ban. Tôi tóm tắt câu chuyện, và họ ngay lập tức đề nghị tôi về nước thì dịch và gửi luôn cho họ.
Bà Nguyễn đã mời tôi dự một bữa tiệc có thể gọi là linh đình. Bữa tiệc được tổ chức ngay trong nhà hàng của trường (tầng 1 là nhà ăn bình dân sinh viên, tầng hai là nhà hàng cao cấp). Tham dự bữa tiệc còn có giám đốc học viện và các giáo sư trưởng các khoa. Mỗi lần nhân viên phục vụ mang một món mới, người ta xoay món đó đến trước mặt người khách đặc biệt, chủ trì (ngồi bên tay trái khách) giới thiệu nguồn gốc, nguyên liệu và ý nghĩa món ăn và mời khách nếm trước. Sau khi vị khách thưởng thức, món ăn được xoay theo chiều kim đồng hồ và mọi người lần lượt, từng người từng người một, không ai bỏ qua lượt của mình. Người ta vẫn nói “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”. Bây giờ, ở Trung Hoa, người ta vẫn ăn cơm Tàu và nhà cửa thì chẳng kém nhà của Tây, chẳng biết họ có yên tâm lấy vợ nội địa hay là thích qua Nhật lấy vợ? Tôi chỉ có một để ý: ăn không hết, họ đề nghị nhân viên phục vụ gói để mang về, thậm chí nước uống, giấy ăn thừa cũng được tận dụng. Điều này dễ hiểu, vì trong công việc cũng vậy: họ thấy người có thể làm việc cho mình là “đặt hàng” luôn, lên kế hoạch nhanh chóng và thực tế và không bỏ sót chi tiết nào trong khi khai thác đối phương. Một cách sống, một lối tư duy thực dụng, thực dụng mà lại không gây cảm giác “lạm dụng” xô bồ…
* * *
Tôi về nước được mấy tuần. Truyện “Cải ơi” và “I am đàn bà” đã dịch xong và gửi qua Nam Ninh cho bạn. Mấy ngày nay bỗng sục sôi chuyện Hoàng Sa, Trường Sa của ta và chuyện Tam Sa do chính quyền Trung Hoa bầy đặt ra.
Tôi vừa giận chính phủ của họ, lại vẫn nhớ đến những người bạn mới, và nhớ những người sẽ cùng mình cộng tác trong những đề tài khoa học.
Những gầm thét chắc chắn rồi sẽ qua đi.
Cái còn lại là những thành tựu văn hoá do những con người đang sống tạo ra với nhau. |