Ngôn ngữ

Tìm kiếm

7/9/2010   
TIẾN SĨ ĐỖ TÔNG PHÁT VÀ CUỘC KHAI HOANG LẬP CÁC TỔNG TÂN KHAI, QUẾ HẢI (NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX)  
(11/6/2009)

Đỗ Tông Phát (1813 - 1893) xuất thân trong gia đình nông dân nghèo ở xã Quần Anh, huyện Nam Chân, xứ Sơn Nam Hạ (nay thuộc Hải Hậu, Nam Định). Năm 1843, ông đỗ Đệ tam giáp đồngTiến sĩ xuất thân trong khoa thi Quý Mão, là Tiến sĩ đầu tiên của Quần Anh. Năm 1867, ông được nhà Nguyễn phong làm Doanh điền sứ tổ chức nhân dân khai khẩn lập nên các Tổng Quế Hải, Tân Khai, nay là 4 xã Hải Đông, Hải Tây, Hải Quang và một phần xã Hải Lý. Ông đã vận động nhân dân đóng góp tiền của để làm giảm bớt gánh nặng cho triều đình nhà Nguyễn đang ở trong giai đoạn khó khăn, đối mặt với cuộc chiến tranh chống Pháp xâm lược. Cuộc khẩn hoang của Đỗ Tông Phát chứng tỏ tính ưu việt của phương thức doanh điền. Qua đó góp phần khẳng định, nhà Nguyễn dù trong lúc khó khăn nhưng vẫn quan tâm đến đời sống của nông dân nghèo, không phải đã hoàn toàn quay lưng lại với nhân dân.


I. MỞ ĐẦU

       Nửa cuối thế kỉ XIX, trong các làng xã nạn bao chiếm ruộng đất ngày càng lớn, ruộng đất tư ngày càng lấn át ruộng đất công, số nông dân mất ruộng phải đi lĩnh canh và xiêu dạt ngày càng nhiều, do vậy giải quyết mối quan hệ giữa ruộng đất công và tư vẫn là một trong những vấn đề được quan tâm của nhà Nguyễn. Triều đình Huế trước đó đã bằng nhiều phương cách khuyến khích nhân dân đẩy mạnh khai hoang lập làng xã mới, trong đó có phương thức khai hoang doanh điền do Nguyễn Công Trứ khởi xướng và lãnh đạo lập nên 2 huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) cùng 2 tổng Hoành Nha (Giao Thủy, Nam Định) và Ninh Nhất (Hải Hậu, Nam Định). Có thể nói đây là một phương thức khai hoang đạt nhiều thành công của nhà Nguyễn. Nối tiếp sự nghiệp này, năm 1864 Doanh điền sứ Đỗ Tông Phát đã vận động và tổ chức nhân dân khai khẩn miền đất phía đông Quần Anh, phía nam Hà Lạn lập nên 2 tổng Quế Hải, Tân Khai – hai trong 7 tổng hình thành nên huyện Hải Hậu cuối thế kỉ XIX.

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

       1. Về thân thế và sự nghiệp của Đỗ Tông Phát

       Đỗ Tông Phát (còn gọi Đỗ Phát) tự là Tử Huấn (có sách viết tự là Tử Tuấn, Xạ Phu), hiệu là Mai Hiên, sinh năm Quý Dậu (1813) trong một gia đình nhà nho nghèo ở thôn Tây xã Quần Anh Hạ, tổng Kim Giả, huyện Nam Chân, trấn Sơn Nam Hạ. Cha là sinh đồ Đỗ Kim Quỹ, mẹ là người họ Phạm. Theo ghi chép của phả họ Đỗ ở Quần Anh thì tổ tiên họ này những năm cuối thế kỉ XV từ Thanh Hóa đến Quần Cường khai hoang lập ấp, thuộc hàng ngũ “cửu tộc”. Ngay từ nhỏ, Đỗ Tông Phát đã mồ côi cha nên mẹ ông phải gánh vác việc cày thuê, cuốc mướn, nuôi con ăn học. Vì sống trong cảnh khó khăn, cơm không đủ no, áo không đủ mặc nên Đỗ Tông Phát rất ham học hỏi, có chí vươn lên.

       Năm 1836, tiên chỉ xã Quần Anh Trung là Nguyễn Công Chiêu muốn phát triển nền giáo dục và khoa cử của địa phương đã mời Ngô Thế Vinh - một nhà giáo dục nổi tiếng ở trong huyện - mở trường Đại tập ở đình Giáp Tứ. Học trò trong vùng kéo về theo học rất đông, Đỗ Tông Phát cũng theo học ở trường này. Nhờ được sự dạy bảo tận tình của thầy Ngô Thế Vinh, Đỗ Tông Phát học hành không ngừng tiến bộ, tài học của ông được bạn bè nể phục. Năm 1839 trong một kì bình văn được tổ chức tại đình Giáp Tứ, bài phú của ông được thầy dạy phê như sau: “Phú trung đa hữu giai cú, tẩm tẩm hồ thập giai cảnh” nghĩa là: “Trong bài phú có nhiều câu hay dẫn dắt người ta vào cảnh đẹp(1). Đến một kì bình văn sau đó, quyển của Đỗ Tông Phát lại được phê rằng: “Bát vận pháp môn, ngô môn trung, Trần Thúc Khiêm cử nhân hữu ngộ khiếu! Tỷ đẳng phú tân bất hứa Trần tử chuyên tịch”, nghĩa là: “Cử nhân Trần Thúc Khiêm trường ta hiểu thấu về vấn đề văn tám vế nhưng nếu đem so sánh với bài phú mới này, không thể để thầy cử Trần giữ mãi chiếu trên(2).

       Đúng như dự đoán của Ngô Dương Đình tiên sinh, trong kì thi Hương năm Canh Tý niên hiệu Minh Mạng thứ 21 (1840), Đỗ Tông Phát đã đỗ giải nguyên. Ba năm sau vào kì thi Hội và thi Đình khoa Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843), Đỗ Tông Phát đậu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.

       Sau khi đỗ Tiến sĩ, Đỗ Tông Phát được triều đình bổ nhiệm giữ chức Hàn lâm viện Biên tu, trật chánh thất phẩm, nhưng vì còn mẹ già nơi quê nhà, nên ông đã từ chối làm quan xin ở nhà phụng dưỡng. Năm Tự Đức thứ nhất (1848) ông nhậm chức Tri phủ Ứng Hòa được thăng trật tòng ngũ phẩm, tiếp đó thăng trật chánh ngũ phẩm vào Nghệ An làm đốc học. Sự nghiệp làm thầy của Đỗ Tông Phát bắt đầu, ở Nghệ An có hàng ngàn sĩ tử theo ông học kinh sách. Sau đó, ông được chuyển về Kinh làm việc tại Quốc tử giám Huế với chức vụ Quốc tử giám tư nghiệp, là thầy dạy của hai vua Thành Thái và Duy Tân. Sau một thời gian làm việc, vì lí do sức khoẻ, ông được triều đình cho về nghỉ ngơi tại quê nhà. Trong thời gian này, ông từng chiêu mộ nghĩa binh xin trấn giữ miền biên giới Đông Bắc được triều đình nhà Nguyễn phong làm Tham biện, Phòng hải sự vụ, được phép chiêu mộ nghĩa binh giữ miền bờ biển.

       Năm Giáp Tý niên hiệu Tự Đức thứ 17 (1864), ông được thăng hàm Quang Lộc Thiếu Khanh trật tòng tứ phẩm, rồi làm Quốc sử viện toản tu. Cũng trong năm 1864, Đỗ Tông Phát được điều ra Nam Định giữ chức Thương biện tỉnh vụ coi sóc ruộng hoang tại vùng đất thuộc huyện Giao Thủy. Do có công lao, ông được thăng Hồng Lô Tự Khanh, trật chánh tứ phẩm, làm Doanh điền sứ ở Nam Định, kiêm Thương biện lo phòng giữ mặt biển. Đây cũng là lúc ông có học trò tại địa phương theo học. Một thời gian sau, triều đình nhà Nguyễn lại triệu ông về Kinh làm Tế tửu ở Quốc tử giám. Sau đó Đỗ Tông Phát lại được điều ra Nam Định làm Doanh điền sứ kiêm Tuần phòng mặt biển, tiếp tục sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ lo việc khai hoang lập ấp vùng ven biển.

       Năm Quý Hợi niên hiệu Tự Đức thứ 26 (1873), thành Nam Định thất thủ trước sự tấn công của Pháp, Đỗ Tông Phát phải liên đới chịu trách nhiệm. Ông bị mất hết chức tước nhưng được vua cho lập công chuộc tội. Sau một thời gian ra sức phục vụ, ông lại được khôi phục hàm biên tu, lĩnh chức Doanh điền sứ.

       Năm 1881 ông tiếp tục giữ chức Hàn lâm viện Biên tu kiêm Biện điền sự vụ.

       Tháng 12 năm Quý Mùi niên hiệu Đồng Khánh thứ 3 (1888), Kinh lược sứ Bắc Kỳ ra quyết định cắt của huyện Nam Chân lập thành huyện Hải Hậu. Phủ huyện mới được đặt tại thôn Đông Cường. Đỗ Tông Phát được bổ nhiệm làm quan tri huyện đầu tiên.

       Năm Kỷ Sửu niên hiệu Thành Thái thứ nhất (1889), ông được khôi phục hàm Hồng Lô Tự Khanh. Vì tuổi đã ngoài 70, Đỗ Tông Phát xin từ quan về nghỉ tại thôn Tây xã Quần Phương Hạ. Khi cuộc khai hoang ở Tân Khai, Quế Hải đạt nhiều kết quả lớn, ông đã có một số ý kiến về vấn đề phân chia đất đai cho các khẩn hộ khai hoang nhưng không hợp với ý của triều đình. Vì nghĩ ông là người cao tuổi, lại có nhiều đóng góp, nên nhà Nguyễn đã ban cho Đỗ Tông Phát chức Thị Lang, trật chánh tam phẩm làm vinh hàm để nghỉ hưu tại quê nhà.

       Con đường hoạn lộ của Đỗ Tông Phát không hề bằng phẳng, trong đó ông dành nửa cuối sự nghiệp của mình gắn bó với quê hương, với công cuộc khai hoang mở đất của nhân dân. Trong con người của Đỗ Tông Phát là ý chí, là tinh thần và nghị lực của một bầy tôi trung hiếu hết lòng vì triều đình, là tấm lòng của một người thầy cũng hết lòng vì học trò ngay cả khi đã nghỉ hưu. Trong những năm cuối đời, Đỗ Tông Phát vẫn tiếp tục sự nghiệp soạn sách, mở trường và dạy học. Học trò của ông có người đỗ đạt: con cả là Đỗ Bỉnh Khiêm đỗ tú tài khoa thi Hương năm Canh Ngọ, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1870). Cùng khoa này con thứ là Đỗ Bỉnh Thành đỗ giải nguyên, được bổ làm Giáo thụ phủ Ninh Giang. Học trò Trần Xuân Áng hai khoa thi Hương năm Tân Dậu (1861) và Mậu Tý (1888) đều đỗ tú tài.

       Sinh thời Đỗ Tông Phát nổi tiếng là người có hiếu với mẹ, khi rảnh rỗi việc quan, ông về nhà tự tay bưng cơm, sắc thuốc, tắm, giặt cho mẹ đã ngoài chín mươi. Một người bạn đồng liêu khi ghé chơi nhà Đỗ Tông Phát, tận mắt thấy ông đang giặt váy cho mẹ đã bày tỏ lòng cảm phục đã xuất khẩu bốn câu thơ:

Đại tai Đỗ Tiến sĩ

Thân vị dịch thân thường

Thân dục ngô thân khiết

Ngô thân uế diệc phương.

Tạm dịch:   Quý thay quan Nghè Đỗ

Váy mẹ giặt không gờm

Bởi mong mẹ được sạch

Tay dù bẩn mà thơm.

       Ông còn để lại một số tác phẩm như: Khuê phạm băng kinh (giáo khoa dành cho nữ giới), Hiếu thuận ước ngữ (giáo khoa dành cho nam giới), Thuỷ kính lục (thơ và văn xuôi), Long châu thập bát vịnh (thơ), Nam Anh biệt thự thập bát vịnh, Mai Hiên thi tập (thơ), Hàn văn (thơ) và Cầm tháo (thơ nhạc).

       2.  Đỗ Tông Phát và cuộc doanh điền lập các Tổng Quế Hải, Tân Khai (1864 - 1895)

       2.1. Chiêu mộ dân đinh, xây dựng nguồn tài chính khẩn hoang

       Đỗ Tông Phát không chỉ có tài văn chương khoa cử mà còn có nhiều công lao trong việc khai hoang mở đất ở vùng ven biển Nam Định. Từ năm Tự Đức thứ 17 (1864), khi được nhà Nguyễn phong làm Doanh điền sứ, ông đã chiêu mộ dân đinh khai hoang lập ấp ở vùng phía đông đất Quần Anh, phía nam Hà Lạn(3). Theo phương thức doanh điền từ thời Nguyễn Công Trứ thì dân đi khai hoang dưới sự chỉ huy của Doanh điền sứ sẽ được nhà nước chu cấp về tiền bạc và công cụ. Ruộng đất sau khai hoang cũng sẽ chia cho dân cày cấy, trong đó có 1 phần cho dân khai hoang lập làm tư điền thế nghiệp nhưng đa số sẽ trở thành công điền sau thời gian miền thuế của nhà nước. Tuy nhiên, lúc này nhà Nguyễn đang ở trong tình cảnh hết sức khó khăn khi đối mặt với đội quân xâm lược hùng mạnh, tiền tài của nhà nước chẳng còn được bao nhiêu. Trước tình cảnh đó, Đỗ Tông Phát đã đề nghị cho dân khai hoang tự đóng góp tiền của và cũng được hưởng một phần thành quả ruộng đất khai khẩn được làm ruộng đất tư.

       Dưới sự tổ chức của ông, các hộ gia đình từ hai huyện Trực Ninh và Giao Thủy cùng tham gia đóng góp tiền của và công sức tự nguyện theo ra khai hoang phá hóa nơi này. Lực lượng khai hoang được phân làm 2 loại gồm những người đóng góp tiền của và những người lao động nghèo trực tiếp đóng góp công sức. Văn bia tu tạo miếu Vũ Đông Hải Long Vương có ghi: "Năm Tự Đức thứ 17 (1864) quan Doanh điền chánh sứ là Đỗ tướng công (Đỗ Tông Phát) khuyên mộ chính khách người huyện Giao Thuỷ và huyện Trực Ninh gồm 117 vị tiên công, tự xuất lực trưng khẩn ruộng đất lập tư điền dinh nghiệp"(4). Lực lượng khai hoang gồm 117 vị tiên công và 2 vị hậu khẩn ở các xã sau:

Địa phương

Số nhân đinh

Địa phương

Số nhân đinh

Xã Hà Quang

12 (có 2 vị hậu khẩn)

xã Sa Đê

1

xã Hà Lạn

9

xã Huyệt Trang

1

xã Kiên Trung

11

xã Hương Cát

6

xã Trà Hải

8

Sở Vọng Doanh

10

xã Lạc Quần

8

xã Hoành Nha

25

xã Hội Khê

6

Ấp Cổn Thành

1

xã Bắc Cận

3

Chưa rõ quê quán

19

Tổng:                           119  nhân đinh

            Nguồn: Ban Tuyên giáo huyện Hải Hậu,

Lịch sử Đảng bộ huyện Hải Hậu, bản thảo/2008.

       Như vậy, đây là điểm khác biệt lớn so với các cuộc doanh điền lập ấp trước đó của Nguyễn Công Trứ và đây cũng là một điều kiện quan trọng ảnh hưởng đến sự phân chia thành quả sau khi cuộc khai khẩn hoàn thành vì nhà nước không còn cấp vốn ban đầu nữa nhưng vẫn duy trì sự điều tiết thông qua vai trò của quan lại địa phương nhằm cố kết cộng đồng, ràng buộc trách nhiệm của những người có phương tiện và đảm bảo lợi ích của tập thể. Điều này cũng phù hợp với hoàn cảnh đất nước đương thời khi nhà Nguyễn một mặt phải đối phó với thực dân Pháp, mặt khác vẫn cố gắng lo lắng giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân.

        2.2. Tổ chức lực lượng khai hoang quai đê lấn biển

       Vùng khai khẩn là bãi bồi nằm ngoài đê Đông của Quần Anh và đê Nam của Hà Lạn, chính vì vậy việc đắp đê ngăn nước mặn biển Đông là cần thiết, quyết định sự thành bại của công cuộc khai hoang. Với vị trí người tổ chức và lãnh đạo công cuộc khai hoang mở đất, Đỗ Tông Phát cùng cộng đồng khai hoang tổ chức đắp đê chặn cửa sông để ngăn nước mặn và đón phù sa vào san lấp bãi sình lầy lau sậy thành ruộng vườn, làng ấp. Đây là công việc khó khăn và tốn nhiều tiền của, nên nó đòi hỏi phải có sự cố kết của cả cộng đồng khai khẩn. Cũng như công việc khai khẩn ở nhiều vùng cửa sông khác ở Nam Định, cùng với việc khai hoang lấn biển tốn kém biết bao công sức, tiền của thì công việc hàn khẩu các cửa sông như sông Vạn, sông Sâu, nhất là sông Múc (một nhánh của sông Ninh Cơ) là vô cùng khó khăn. Nhưng với tinh thần lao động bền bỉ khắc phục mọi hiểm nguy, cuối cùng các cửa sông cũng được hàn lấp. Bên trong các cửa sông, một vùng đầm lầy sú vẹt lau lác um tùm được cải tạo thành đồng ruộng, diện tích đất đai mới khai phá dần dần rộng mở.

       Những năm sau đó, dưới sự chỉ đạo của Đỗ Tông Phát, công cuộc khai phá đất đai vẫn được tiến hành khẩn trương. Tiềm năng khai khẩn vùng đất mới đã thu hút được thêm ngày càng nhiều nông dân nghèo từ các huyện Giao Thủy, Trực Ninh tìm đến, nhân đinh đổ về sum họp ngày càng đông phát triển lực lượng khẩn hoang thêm hùng hậu.

       Sau khi được chia ruộng, các khẩn hộ phải tiếp tục dốc công sức, cải tạo mặt bằng, khoanh vùng đắp bờ, dẫn thủy nhập điền. Những năm đầu vùng đất bãi hoang vu tuy đã thành ruộng, thành vườn nhưng do bị nhiễm mặn nên rất khó trong việc canh tác cây lương thực, năng suất chẳng được là bao, do đó công việc kiến thiết hệ thống thủy nông có vị trí quan trọng. Một hệ thống kênh mương dẫn nước theo trục tung và hoành đã nhanh chóng ra đời tạo nên những cánh đồng vuông vắn trên vùng đất mới.

       Tuy đồng ruộng, làng xóm đã hình thành nhưng công việc cải tạo đất đai phục vụ gieo trồng, cấy hái còn nhiều khó khăn. Với kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình, Đỗ Tông Phát đã hướng dẫn nhân dân tiếp tục đào sông ngăn mặn, cải tạo đồng ruộng để trồng cấy được thuận lợi. Phía nam xã ruộng cao, lực lượng khẩn hoang đã phải đóng đất quật thành vườn, vì vậy cho nên nhìn chung mô hình đất canh tác cứ một thửa ruộng là có một thửa vườn song song. Nhưng phía bắc xã thì đồng ruộng lại trũng, nhân dân phải dùng nhiều công sức san lấp mới có thể cày cấy được. Trải qua hàng chục năm đào sông, khơi ngòi dẫn nước ngọt vào đồng, thau chua rửa mặn đồng đất mới trồng được 2 vụ lúa và năng suất cao hơn.

       Trong bài thơ Đạo lũng xuân canh (Đường cày mùa xuân), Đỗ Tông Phát đã phần nào đề cập đến nỗi cực nhọc vất vả của người nông dân trên vùng đất mới:

Biển mới nên nương đất chửa nhuần

Thau chua rửa mặn mấy gian truân

Đường cày xuân muộn sương mưa tưới

Khoảnh ruộng bồi non mới gặt dần

Bò sớm ra đi sao điểm tóc

Bừa chiều về khói đã len chân

Những mong thời tiết sao cho thuận

Non thẳm đêm đêm ngắm bóng vần

       Vào năm 1881, vì thấy hạn hán kéo dài, đồng ruộng ở tổng Ninh Nhất nứt nẻ, Đỗ Tông Phát lại tổ chức cho dân đào sông Cát Giả nối từ sông Hải Hậu đến cửa biển Văn Lý để dẫn nước ngọt và đưa phù sa vào đồng ruộng. Đây là việc làm tiếp tục sự nghiệp của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ trước đây.

       2.3. Bảo vệ và phát triển thành quả của công cuộc khai hoang

       Đến năm 1885 khu khai khẩn phía nam Hà Lạn đã căn bản hoàn thành với tổng diện tích 5.422 mẫu hình thành nên 6 xã: Trùng Quang, Thanh Trà, Trung Phương, Doanh Châu, Quế Phương, Liên Phú, 5 lý gồm: Xương Điền, Kiên Chính, Hòa Định, Văn Lý, Xuân Hòa và 1 ấp Hải Nhuận. Các làng ấp mới đều mang tên các làng xã là nơi quê cũ của những khẩn hộ. Đa số các hộ gia đình xuống khai khẩn từ những ngày đầu đều được nhận một phần đất làm tư điền, tư liệu địa phương cho biết mỗi khẩn hộ được chia 46 mẫu. Sự duy trì hình thức sở hữu này còn tồn tại đến trước cải cách ruộng đất năm 1955. Theo tờ trình tư điền của ông Vũ Hữu Lân ở Doanh Châu về việc chia cấp ruộng đất sau khai hoang ở Quế Hải có ghi: "Vua Hàm Nghi năm đầu (1885) tháng 10, ngày 12. Tôi là Bá Hộ Vũ Hữu Lân, người làng Vọng Doanh hạ sở, tổng Thần Lộ thức chiểu khoảng năm Tự Đức thứ 17 (1864), chúng tôi gồm chính khách hộ hai huyện Giao Thuỷ, Trực Ninh gồm 117 suất, tự xuất tài, xuất lực đắp đê ngăn sóng trưng khẩn ruộng đất hoang mặn thuộc xứ Hải Hậu được 5.422 mẫu. Thừa lệnh giao cho chúng tôi 533 mẫu 4 tấc 4 phân đất này đã được quan tỉnh tấu xin nhà vua chuẩn cho làm "Tư điền thế nghiệp"(5).

       Tuy nhiên theo phả họ Trần khai sáng xã Hải Tây thì việc chia ruộng đất có phần khác biệt, phả chép: “vượt bao gian nan vất vả, đến năm 1895 công việc hoàn thành, bốn suất đinh họ Trần làng Quần Lạc được nhận 105 mẫu đất ở phía đông chợ Cồn thuộc xã Quần Phương Hạ(6). Theo phỏng đoán của chúng tôi, có lẽ bốn hộ này đến sau nên họ nhận được phần đất đai giáp biển, phải mất nhiều công lao cải tạo mới có thể canh tác được.

       Năm Nhâm Ngọ niên hiệu Tự Đức thứ 39 (1882), Đỗ Tông Phát tâu xin vua Tự Đức cho phép đem một số ruộng nhượng điền (ruộng tư) của các xã thành lập ruộng sĩ hội (học điền) nhằm tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ học trò nghèo theo đuổi sự nghiệp văn chương. Điều này cho thấy, dù nhà nước phong kiến Nguyễn đang từng bước chấp nhận đầu hàng thực dân Pháp song Đỗ Tông Phát vẫn một lòng trung thành với triều đình, vẫn coi việc học kinh sách thánh hiền, lấy con đường khoa cử lập thân làm mục tiêu tối cao của học trò.

       Năm Thành Thái thứ 7 (1895) sau khi quan tỉnh và quan sứ đi kinh lý, triều đình đã cho phép lập 6 xã trên cùng ấp Hải Nhuận thành tổng Quế Hải và 5 lý thành tổng Tân Khai. Như vậy, công cuộc khai khẩn hai tổng Tân Khai, Quế Hải khởi công từ năm 1864 đến năm 1895 thì hoàn thành. Cũng trong năm này, Công sứ Pháp và Tổng đốc Nam Định cho người về đo đất chia làm ba phần: một phần phía nam làm công điền lập 4 lý: Hoà Định, Văn Lý, Tang Điền, Kiên Chính thuộc tổng Tân Khai (nay là phần lớn địa giới hành chính của xã Hải Lý); hai phần phía bắc làm đất tư điền lập 6 xã: Trung Phương, Thanh Trà, Trùng Quang, Liên Phú, Quế Phương, Doanh Châu thuộc tổng Quế Hải (nay là địa giới hành chính của ba xã Hải Đông, Hải Quang và Hải Tây).

       Ngay sau cuộc khai hoang lập các tổng Tân Khai, Quế Hải của Đỗ Tông Phát, công cuộc quai đê lấn biển vẫn tiếp tục được tiến hành. Năm 1896, từ dải đất phía đông tổng Quế Hải một tập thể gồm 16 vị tài chủ (người đầu tư tiền bạc khai hoang), trong đó có Nguyễn Vũ Đoán người xã Quần Phương Hạ, lấy ấp Hải Nhuận làm bàn đạp, cùng song song tiến ra chinh phục bãi bồi. Kết quả đã trưng khẩn được thêm một xã, đặt là Hải Nhuận và sáp nhập vào tổng Quế Hải. Đây cũng là lúc chính quyền thực dân bắt đầu áp đặt những quy định mới đối với việc khai khẩn vùng ven biển, như định lại chế độ thuế và thời hạn để hoàn hành và buộc những người có phương tiện được phép khai hoang bãi bồi phải bảo đảm lợi ích của cả tập thể.

       Năm Quý Tỵ niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893), Tiến sĩ Đỗ Tông Phát qua đời hưởng thọ 81 tuổi. Sau khi ông mất thi hài được an táng tại quê nhà xã Quần Phương Hạ (nay nằm ở phía sau của chùa Tùng Lâm, Hải Bắc, trụ sở của Hội Phật giáo huyện Hải Hậu). Ghi nhớ công lao của Doanh điền Đỗ Tông Phát, nhân dân tổng Quế Hải đã lập đền phụng sự tại nhiều làng xã trong tổng. Đầu thế kỉ XX, khi nhân dân góp công sức chùa Quế Phương, xã Hải Tây, vì nhớ tới ơn của người khai sáng vùng đất nên xây dựng khu phối thờ Doanh điền sứ Đỗ Tông Phát tại phía tây của chùa. Năm 2003, cụm di tích này được công nhận là “Di tích Lịch sử - Văn hóa” cấp Tỉnh. Hiện nay, trong dân gian còn lưu truyền đôi câu đối nói lên sự nghiệp của Đỗ Tông Phát:

Soạn sách mở trường, ngàn thu Đẩu Sơn vời vợi đuốc

Xua kình lập ấp, muôn thủa Quế Hải ngào ngạt hương

       Có thể nói, sự nghiệp mở đất của Doanh điền sứ Đỗ Tông Phát ở Quế Hải thật là to lớn. Sự nghiệp ấy có công của những người khai sáng nhưng thành quả lớn lao trong công cuộc khai cơ mở đất chủ yếu là kết tinh mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của hàng trăm nông dân nghèo khổ đã phải lao động cật lực trong nhiều thập kỉ.

III. KẾT LUẬN

       Công cuộc khai hoang ở Quế Hải và Tân Khai là sự nối tiếp truyền thống quai đê lấn biển, khẩn hoang lập ấp của cộng đồng cư dân Hải Hậu có mặt ở đây từ nửa cuối thế kỉ XV. Cuộc khai hoang này kéo dài trong hai thời kì, từ lúc nhà Nguyễn còn giữ được nền tự chủ cho đến khi người Pháp bình định xong các cuộc đấu tranh của lực lượng trí sĩ phong kiến Việt Nam, do đó việc tổ chức cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là những khó khăn về tài chính, về giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa nhà đầu tư với người khai khẩn, giữa dân trồng lúa với diêm dân, giữa dân lương và dân giáo..vv. Trong quá trình ấy, vai trò của nhà tổ chức và kiến thiết Đỗ Tông Phát là vô cùng quan trọng góp phần định hướng cho các khẩn hộ nhanh chóng đẩy lùi biển cả, cải tạo bãi lau sậy thành hai tổng với đất đai, đồng ruộng rộng rãi và các làng ấp ngày càng ổn định. Đó là một trong những đóng góp của ông được nhà Nguyễn coi trọng.

       Đây là một cuộc doanh điền lập ấp hay nói đúng hơn là cuộc khai hoang do Doanh điền sứ chiêu mộ dân đinh và tổ chức tiến hành, tuy nhiên có nhiều điểm khác biệt so với phương thức doanh điền được tiến hành dưới thời Nguyễn Công Trứ. Sự khác biệt thể hiện từ cách thức tổ chức đến việc phân chia thành quả ruộng đất sau khai hoang. Nguồn tài chính khổng lồ trong suốt mấy chục năm khai khẩn đều do nhân dân tự nguyện đóng góp, do vậy một phần lớn đất đai khai khẩn được công nhận là ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân và đó chính là nguồn động viên to lớn để họ không tiếc mồ hôi, công sức, tiền bạc để quai đê, lấn biển. Điều này đã phản ánh đúng thực trạng của xã hội nước ta đương thời và nhu cầu ngày càng lớn về ruộng đất của nông dân nghèo trong nhiều làng xã. Nó cũng cho thấy mặt tích cực nhất định của triều đình Huế, tuy có phần bạc nhược về chính trị nhưng cũng không hẳn đã hoàn toàn quay lưng lại với nhân dân.

       ----------------------------------------

       CHÚ THÍCH

       (1). Xem thêm: Phương Châu Đoàn Ngọc Phan, Danh nhân xã Quần Anh Hạ, Báo Sài Gòn giải phóng, số 301 ngày 16/11/1996 tr 42: Trong mỗi kì bình văn tổ chức tại đình Giáp Tứ xã Quần Anh Trung, sĩ tử làm bài nộp quyển không phải chỉ có các khóa sinh hoặc các ông nhất, nhị trường mà còn có cả cử nhân, tú tài. Thế nhưng trước sau ông Nghè Bái Dương lại thường quan tâm đến thầy khóa nghèo Đỗ Tông Phát.

       (2). Danh nhân xã Quần Anh Hạ, Sđd, tr 42.

       (3). Tổng Quần Anh được khai khẩn từ những năm 1485 - 1486 đến năm 1827 do “tứ tính, cửu tộc” khởi xướng, tiến hành, đất Hà Lạn được khai khẩn từ những năm 1597 đến 1819, do An phủ sứ Sơn Nam là Vũ Duy Hòa khởi xướng và lãnh đạo, nay đều thuộc Hải Hậu, Nam Định.

       (4). Bia này được đặt tại trụ sở UBND xã Hải Quang.

       (5). Ban Tuyên giáo huyện Hải Hậu, Lịch sử Đảng bộ huyện Hải Hậu, bản thảo 2008.

       (6). Hải Hậu Trần tộc phả, bản biên soạn năm 2000, tr 43, bốn suất đinh là Trần Trọng Nhã, Trần Trọng Quyền, Trần Trọng Yêng và Trần Cấp Công.

 

       TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

       [1]. Ban Tuyên giáo huyện Hải Hậu, Lịch sử Đảng bộ huyện Hải Hậu, bản thảo/2008.

       [2]. Văn bia tu tạo miếu Vũ Đông Hải Long Vương (Tư liệu địa phương).

       [3]. Hải Hậu Trần tộc phả, bản biên soạn năm 2000 (Tư liệu địa phương).

       [4]. Đoàn Ngọc Phan, Danh nhân xã Quần Anh Hạ, Báo Sài Gòn giải phóng, số 301 ngày 16/11/1996, tr 42.

 

SUMMARY

DR. DO TONG PHAT AND HIS ROLE IN ESTABLISHING 2 CANTONS TAN KHAI, QUE HAI

IN THE SECOND HALF OF THE 19th CENTURY

MA. Tran Van Kien

Faculty of Vietnamese Studies, H.N.U.E

 

Do Tong Phat (1813 - 1893) was born in Quan Anh commune, is now Hai Hau district, Nam Dinh province. In 1843, he was the first one who was granted a doctorate at Quan Anh, at 3rd level. In 1867, he took full-responsibility to make citizens reclaim (encoaching the Sea). Now, this area is consisted of four communes: Hai Dong, Hai Tay, Hai Quang, Hai Ly. The reclamation has been strongly affirmed good points of the landing-exploitation mode during the Nguyen’s dynasties. Moreover, he has played an important role in mobilizing citizens to contribute money in order to reduce expenses of the Central Government (facing to lots of difficulties at that time). This article aims to affirm that Nguyen’s dynasties didn’t totally ignore citizens and the nation. In spite of its difficulties, the Government cared about them, for example, the reclamation of Do Tong Phat.

ThS Trần Văn Kiên, Khoa Việt Nam học, ĐHSP Hà Nội (Bài đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHSPHN số đặc san 2008)
In bài Gửi bài cho bạn
Các tin đã đưa:
  • Những chuyển biến trong quan hệ bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc dưới tác động của thực dân Pháp (1858-1885) (02/10/2009)
  • ALBUM ẢNH 
    Chùa Thầy
     
     
    Lịch tập trung ôn thi hệ liên thông khóa 2
     
    ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG SỰ TRUYỀN BÁ CÔNG GIÁO VÀO VIỆT NAM VÀ PHILIPPIN


    Bản quyền thuộc Khoa Việt Nam Học
    Thiết kế và phát triển bởi C.I.S