Ngôn ngữ

Tìm kiếm

7/9/2010   
Những chuyển biến trong quan hệ bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc dưới tác động của thực dân Pháp (1858-1885)  
(2/10/2009)

Thực hiện mưu đồ xâm chiếm Việt Nam, ở giai đoạn này sau khi thiết lập ách thống trị ở Nam Kỳ, thực dân Pháp đã tiếp tục đưa quân ra Bắc, tấn công thành Hà Nội và đánh chiếm nhiều tỉnh ở đồng bằng Bắc Kỳ. Âm mưu của thực dân Pháp là từ đây sẽ làm bàn đạp để xâm chiếm Vân Nam (Trung Quốc). Đứng trước hoàn cảnh lịch sử ấy, khi mà quyền lợi dân tộc của mỗi nước đều bị đe doạ thì cả chính quyền Việt Nam lẫn Trung Quốc đều vạch ra cho mình những phương cách đối phó với nguy cơ mới. Vì thế, lúc này trong quan hệ bang giao giữa hai nước một mặt tiếp tục mối quan hệ mang tính truyền thống vốn có từ lâu đời, mặt khác sẽ xuất hiện những biểu hiện mới trong việc giải quyết vấn đề Pháp. Liệu mối quan hệ bang giao ấy khi có sự ảnh hưởng của nhân tố mới (Pháp) sẽ trở nên gắn bó, khăng khít hơn hay là sẽ bị đẩy giãn ra?


1. Thái độ của nhà Nguyễn đối với nhà Thanh trước những hoạt động của thực dân Pháp ở Việt Nam

Theo Tsuboi khi viết về quan điểm của chính quyền Trung Hoa đối với các hoạt động của Pháp ở Việt Nam đã khẳng định rằng: "Cho đến năm 1870, triều đình Bắc Kinh hoàn toàn không biết đến việc Pháp chiếm Việt Nam"(1). Song có lẽ thực tế triều Thanh trước năm 1870 cũng đã biết ít nhiều về điều này ngay từ khi sứ bộ Lê Tuấn của nước ta đến Bắc Kinh năm 1868 (2). Và cũng trong năm này, triều Thanh đã cử sứ bộ Chí Cương, Tôn Gia Cốc đi cùng với Hiệp Lý, Đại sứ nước Anh, nước Pháp sang thăm rất nhiều nước như: Nhật Bản, Hợp chủng quốc Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Y Pha Nho, Ý Đại Ly. Chắc rằng trong chuyến đi ấy, đoàn sứ bộ Chí Cương cũng đã ít nhiều nghe đến việc nước Pháp chiếm Việt Nam.

Song một điều có thể khẳng định chắc chắn là phải đến năm Canh Ngọ (1870) thì nhà Nguyễn mới chính thức cho Bắc Kinh biết là nước Pháp đã chiếm đất nước ta. Đó là sự kiện tháng 10 năm Canh Ngọ (1870), triều Nguyễn cử đoàn sứ bộ sang tạ ơn Thanh triều đã sai Phùng Tử Tài sang giúp nước ta trong việc tiểu trừ giặc Ngô Côn - vốn là dư đảng của Thái Bình Thiên quốc. Trong chuyến đi này, Viện Cơ Mật đã soạn sẵn để giao cho sứ bộ các lời vấn đáp để sứ bộ tiện trả lời cho quan nước Thanh hỏi sứ ta về việc giao thiệp với nước Pháp, việc nước Pháp lấy 6 tỉnh Nam Kỳ, việc ta đang đòi đất bằng văn thư….Hơn thế, trong năm 1870, nhân vụ Thiên Tân, khi mà Henri Fontanier - lãnh sự Pháp ở Thiên tân, hai giáo sĩ thừa sai và những người Pháp khác bị giết thì thông tin Pháp chiếm Việt Nam chính thức được triều Thanh biết rõ. Lúc đó, nhân khi quan hệ ngoại giao Pháp và Trung Hoa trở nên căng thẳng và theo lời đề xuất của Đinh Nhật Xương, trấn phủ tỉnh Giang Tô, chính quyền Trung Quốc lúc này đã trực tiếp cử sứ bộ sang Việt Nam nhằm thăm dò khả năng hợp tác giữa hai nước cùng chống Pháp.

Qua đó cho chúng ta thấy rằng: chính thức đến năm 1870, triều Thanh mới nắm rõ thông tin về việc Pháp đánh chiếm Việt Nam. Đồng thời nó cũng chứng tỏ rằng: ban đầu khi Pháp đánh nước ta, nước ta không cầu viện Trung Quốc. Trong những năm đầu chống Pháp, triều Nguyễn đã cố gắng hành động phù hợp với thế giới quan của mình mà không nhờ sự can thiệp vào bên ngoài.

Thậm chí đến khi xảy ra việc Nam triều ký Hiệp ước Giáp Tuất năm 1874 với nước Pháp thì Nam triều cũng không báo gì cho Trung Quốc về sự việc này. Bản Hiệp ước Giáp Tuất tháng 3 - 1874 này ghi nhận nhà Nguyễn phải thi hành chính sách ngoại giao của mình đúng như chính sách ngoại giao của nước Pháp. Hơn nữa, nước Pháp thừa nhận chủ quyền và nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam đối với bất cứ một cường quốc nào, nước Pháp hứa sẽ giúp Việt Nam duy trì trật tự, an ninh, chống lại mọi sự tấn công của nước ngoài và tiểu trừ giặc cướp (3). Rõ ràng những điều này đồng nghĩa với việc phủ nhận ảnh hưởng của nhà Thanh đối với triều đình Huế.

Nếu ta nhìn sâu hơn vào thực chất của vấn đề, ta sẽ thấy mối quan hệ bang giao giữa Nam triều và Bắc triều lúc bấy giờ, tuy một bên là Thiên triều, một bên là phiên quốc, nhưng rõ ràng Nam triều vẫn có quyền tự chủ bởi không thế sao Nam triều lúc này lại nhiều lần ký hoà ước với nước Pháp như vậy mà không cần được Bắc triều cho phép hay là đồng ý?

Phải đến giữa năm 1875 thì triều đình nhà Thanh mới được thông báo cho biết bản Hoà ước Giáp Tuất 1874 giữa triều đình Nguyễn với thực dân Pháp. Lúc này cũng không phải triều đình Huế thông báo mà chính Pháp cử Đại lý Đại sứ Pháp ở Bắc Kinh - ông De Rochechouat chuyển cho hoàng thân Kung, vị đứng đầu Tổng lý Nha-môn (4) của nhà Thanh xem bản hoà ước ấy với ý định là tuyên bố cho nhà Thanh biết rõ Bắc Kỳ là "một bộ phận phụ thuộc của chính quyền Sài Gòn". Song ngay sau đó nhà Thanh đã lập tức trả lời rằng: "tự Giao Chỉ chí Việt Nam, bản hệ Trung Hoa thuộc quốc" (dịch: từ Giao Chỉ đến Việt Nam (đất ấy) vốn là thuộc quốc của Trung Quốc” (5). Điều này có nghĩa là Trung Quốc khẳng định vai trò "tôn chủ" của mình với Việt Nam nhằm phủ nhận điều khoản thứ hai của hiệp ước Giáp Tuất năm 1874 khi nó thừa nhận chủ quyền và nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam với bất cứ một cường quốc nào. Tuy nhiên người phiên dịch của toà lãnh sự Pháp ở Trung Quốc lúc ấy đã không lột tả đúng nghĩa câu trả lời của nhà Thanh, mà dịch là: "An Nam cũng là xứ cũng được gọi là Việt Nam; xứ này đã từng là nước thần phục Trung Hoa" (6). Do đó mà lúc này Pháp cứ nghĩ Trung Hoa không có gì phản đối Hiệp ước 1874 và bản thân Trung Hoa cũng nghĩ là mình đã phản đối hiệp ước một cách rõ ràng.

Trong khi Pháp và Trung Hoa đang bất đồng với nhau về những nội dung cơ bản của Hiệp ước 1874 và bản thân thực dân Pháp đang rất mong muốn triều đình Huế ủng hộ những quan điểm của Pháp thì đến năm 1876, vua Tự Đức cử một đoàn sứ do Chánh sứ Bùi Văn Dị (7) đứng đầu sang Trung Hoa nộp cống và chúc mừng vua Quang Tự lên ngôi . Bốn năm sau, tức năm 1880, vua Tự Đức lại tiếp tục cử sứ bộ Nguyễn Thuật, Trần Khánh Tiến, Nguyễn Hoan sang Bắc Kinh tuế cống, không có ngỏ ý cầu viện gì. Người Pháp lúc này đã xem những hoạt động này như một cố gắng thắt chặt quan hệ giữa chư hầu và thượng quốc. Song thực tế lúc bấy giờ Tự Đức chỉ giữ quan hệ bang giao Việt - Trung đúng ở mức như các quy định cổ truyền đòi hỏi, thư từ trao đổi qua lại lúc ấy, chỉ mang tính nghi lễ ngoại giao đơn thuần, không hề đề cập đến các hoạt động của người Pháp (8). Qua đó để chứng tỏ cho ta thấy: trong giai đoạn đầu triều đình nhà Nguyễn có những cố gắng nhất định trong việc tự chủ hành động phù hợp với thế giới quan của mình, không cầu mong sự viện giúp từ bên ngoài.

Trong lúc đó, vua tôi nhà Thanh đã sử dụng lý do về sự bất đồng của mình đối với các Hiệp ước năm 1874 để can thiệp sâu hơn Việt Nam đến mức tự cho mình có thẩm quyền đứng về một phía để đàm phán với chính phủ Pháp về vấn đề Bắc Kỳ (Việt Nam). Từ năm 1880, vua Quang Tự đã giao cho Tăng Kỷ Trạch, đại sứ Trung Quốc ở Pháp được quyền đàm phán trực tiếp với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và nhiều quan chức cao cấp của Chính phủ Pháp về vấn đề Bắc Kỳ. Trong khi Tăng Kỷ Trạch liên tục nêu ra quyền "tôn chủ" của họ đối với Việt Nam, thì về mặt quân sự, Trung Quốc lúc này đã đưa tàu thuỷ có trang bị súng hạng nặng đi lại trên các sông ở Bắc Kỳ. Những hành động này của Trung Quốc càng đẩy nhanh Pháp dùng sức mạnh quân sự để chiếm Bắc Kỳ. Bước sang năm 1881, trước âm mưu của Pháp mở rộng xâm chiếm toàn bộ Bắc Kỳ, nhà Thanh lại cử tiếp một sứ thần là Dương Đình Canh sang đến phủ Hải Ninh rồi đáp thuyền vào Huế, báo cho triều đình Huế phải lo toan phòng bị để giữ lấy Bắc Kỳ. Nhân khi Dương Đình Canh về, vua Tự Đức sai viết thư gửi tổng đốc Lưỡng Quảng và đại thần Lý Hồng Chương với ngỏ ý nhờ nhà Thanh giúp cho đặt đại sứ và lãnh quán tại Trung Hoa, đồng thời biếu mỗi người một đôi ngà voi hạng nhất, một cái sừng tê hạng nhất. Song tổng đốc Lưỡng Quãng lúc này là Trương Thụ Thanh đã đem đồ vật ấy trả lại, nói rằng nếu nhận sợ người khác ngờ, có việc gì sau này xảy ra khó tranh luận. Còn Lý Hồng Chương thì trả lời nên “tự cường”(9). Như vậy cái ngỏ ý ban đầu của Việt Nam muốn nhờ Thanh triều giúp cho đặt đại sứ và lãnh sự tại Trung Hoa đã bị khước từ.

Dù triều đình Huế đã được biết trước rằng nước Pháp sẽ can thiệp vào Bắc Kỳ vì trước đó đã được Đường Đình Canh - sứ thần của nhà Thanh báo tin, song cuộc phòng thủ ở Bắc Kỳ không được tổ chức đủ vững nên cuối cùng thành Hà Nội đã thất thủ sau lần công phá của Henri Riviere ngày 25-4-1882 (tháng 3 Nhâm Ngọ). Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu đã tuẫn tiết, tình hình Bắc Kỳ trở nên rất phức tạp. Chính vào lúc ấy, năm 1882 Triều đình Huế đã chính thức cử một phái đoàn ngoại giao, đứng đầu là Phạm Thận Dụât sang Trung Quốc cầu cứu nhà Thanh (10). Đoàn sứ bộ ra đi vào ngày 6/2/1882, tức là vài ngày trước tết Nguyên Đán. Điều này đã chứng tỏ tình thế nước ta lúc này nguy cấp đến mức độ nào, mặt khác cũng thể hiện rõ ảo tưởng của vua quan triều Nguyễn lúc này đối với sự giúp đỡ của "Thiên triều" trong cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Đến đây triều Nguyễn chính thức cầu viện nhà Thanh.

Về phía nhà Thanh, nhà Thanh đã giúp bằng ngoại giao trước: tin Hà Nội thất thủ sang đến Paris ngày 1 tháng 5 thì ngày 6 tháng 5, Tăng Kỷ Trạch đã viết thư cho bộ Ngoai giao Pháp đòi Pháp phải rút về. Vậy là nhà Thanh đã bằng ngoại giao để một mặt mong bảo vệ quyền lợi cho mình, mặt khác là để giúp nước ta. Về mặt quân sự, chính phủ Thanh đã ra lệnh cho quân chính quy đóng ở Quảng Tây và Vân Nam ồ ạt vượt qua biên giới, lần lượt chiếm đóng các tỉnh miền núi và trung du Bắc Kỳ. Theo ước tính số quân chính quy từ Quảng Tây sang chia đóng giữ ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, một phần Tuyên Quang, một phần Thái Nguyên, Lạng Giang và Bắc Ninh, do đề đốc Hoàng Quế Lan và Triệu Ốc trực tiếp chỉ huy, lúc đông nhất lên đến 4 vạn người (11). Song trên thực tế chưa bao giờ chúng dám thừa nhận sự hiện diện quân sự đó là để giúp đỡ Việt Nam chống lại Pháp xâm lược. Suốt cả năm 1882, hầu như quân Thanh không dám đối đầu trực tiếp về quân sự với Pháp mà ngược lại trước sau vẫn tiến hành đàm phán thương lượng với Pháp để giải quyết vấn đề Bắc Kỳ sao cho có lợi cho họ. Quân Pháp lúc này do lực lượng còn mỏng, viện binh và kinh phí chiến tranh chưa được chuyển sang nên đã chấp nhận đàm phán với Chính phủ Thanh để tránh sự bất lợi khi đụng đầu trực tiếp với nhà Thanh. Cuộc đàm phán ấy đã đi đến “thỏa ước tạm thời” tháng 12 năm 1882. Thỏa ước gồm 3 điểm như sau: 1) Trung Quốc và Pháp đồng ý vạch một đường ranh giới ở giữa sông Hồng, chia Bắc Kỳ làm hai phần: phía bắc đường ranh giới đó do Pháp tuần tra bảo hộ. 2) Nếu chính phủ Thanh rút hết quân chính quy khỏi Bắc Kỳ thì Pháp sẽ tuyên bố không xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam. 3) Chính phủ Thanh đồng ý mở cửa khẩu Bảo Thắng để cho thương nhân Pháp ngược sông Hồng tiến hành buôn bán với Vân Nam (Trung Quốc) (12). Song bản tạm ước đó đã sớm bị Pháp đơn phương xé bỏ.

Bước sang năm 1883, thực dân Pháp điên cuồng mở rộng chiến tranh ra toàn vùng châu thổ sông Hồng. Lúc này được sự đồng ý của triều đình trung ương, tham tán Bùi Âu Niên của ta đã lên Bắc Cầu gặp thống lĩnh quân Thanh là Từ Diên Húc mong nhận sự giúp đỡ. Song Từ Diên Húc đã từ chối: “ Nước Thanh tuy muốn cứu nước Nam, nhưng vì Pháp giao thiệp với Lý Hồng Chương, cho nên bề ngoài không cứu viện được” (13). Tiếp đó quan quân thứ tỉnh Bắc Ninh là Trương Quang Đản lên tận Phủ Lạng Giang đề nghị Đề đốc Hoàng Quế Lan đem quân qua sông chọn chỗ đóng quân hòng tạo áp lực với Pháp. Song Hoàng Quế Lan cũng từ chối. Biết được tình hình trên, vua Tự Đức đã phải bảo cho quân thứ Bắc Ninh rằng: “Nước Thanh đã lo ngại sinh ra hiềm khích, viên thống lãnh ấy đã đóng ở Lang Giang, không từng sang sông, ý ấy có thể biết được. Rút cục việc ta phải làm là chính” (14). Qua đây cho thấy sự thất vọng của triều đình Tự Đức trước phản ứng yếu đuối và thái độ bàng quan của quan quân nhà Thanh.

Trong khi đó, sau khi thất bị ở trận Cầu Giấy tháng 5 - 1883, Pháp quyết định dùng sức mạnh quân sự tấn công thẳng vào kinh đô Huế nhân khi triều đình Huế đang bận rộn với tang lễ của vua Tự Đức (7/1883). Ngày 18/8/1883, quân Pháp tấn công mạnh vào cửa biển Thuận An. Kết quả ngày 20/8/1883, Thuận An thất thủ, triều đình Huế phải kí Hiệp ước đầu hàng vào ngày 25/8/1883 mà lịch sử gọi là “Hiệp ước Harmard”(Hác-măng). Theo đó thừa nhận Việt Nam hoàn toàn do Pháp bảo hộ. Sau Hiệp ước ngày 25/8/1883, vua Nguyễn lúc đó là Dục Đức đã sai người viết thư mang sang cho Tổng đốc Lưỡng Quảng và Lý Hồng Chương cùng Tổng lý nha môn nước Thanh báo cáo sự việc Pháp ức hiếp ta phải kí Hòa ước. Không lâu sau đó, Tổng đốc Quảng Đông là Tăng Quốc Thuyên đã hồi âm. Song một lần nữa vua Nguyễn phải thất vọng mà nói rằng “Xem kỹ thì biết viên tổng đốc này hình như sợ người Pháp hiềm thù, cũng đồng ý với Cung Thân Xương, Lý Hồng Chương, cho nên từ trước không chịu ra mặt giúp đỡ ra. Nay dẫu có ý tốt cũng muộn quá rồi. Huống chi họ còn đương biên luận chưa biết bao giờ xong, chỉ phô trương đến nghĩa hão mà không ích gì vậy” (15).

Vậy là, qua tất cả những sự việc trên chúng ta nhận thấy ở giai đoạn này dù đã có những cố gắng khẳng định tính độc lập của mình trong quan hệ bang giao trong những năm 1858 - 1882, song đến 1882 trước tình thế hiểm nghèo, nhà Nguyễn đã cầu viện nhà Thanh. Việc làm này có sử gia cho rằng là thất sách bởi Trung Quốc cứu mình chưa xong còn mong cứu được ai. Đã đành là như vậy, nhưng nhìn nhận đến tình trạng của Nam triều lúc này khi đang ở thế cô thì liệu muốn tìm đồng minh ngoài nhà Thanh ra còn ai? Song điều cần nói đến là hiệu quả của sự “giúp đỡ” của Thiên triều lúc bấy giờ. Kể từ sau tháng 4 năm 1882, hàng vạn quân chính quy có mặt ở Bắc Kỳ theo lệnh của nhà Thanh nhưng gần như “án binh bất động”, không dám đối đầu trực tiếp về quân sự với Pháp mà hầu như chỉ tiến hành đàm phán thương lượng nhằm giải quyết vấn đề Bắc Kỳ có lợi cho họ. Tuy nhà Thanh yếu và can thiệp vào nước Nam cốt bảo vệ quyền lợi cho mình như vậy nhưng việc can thiệp ấy của nhà Thanh tất nhiên không thể không gây ra sự khó cho Pháp và ở mức độ nào đó bản thân nhà Thanh cũng bị thiệt. Do vậy tuy không nhiều nhưng mối quan hệ bang giao Việt - Trung (giữa chư hầu và thượng quốc) lúc này phần nào đó đã mang lại cái lợi cho ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

2. Từ những thỏa ước giữa Pháp với Trung Hoa đến sự chấm dứt vĩnh viễn quan hệ thượng quốc - chư hầu giữa Trung Hoa với Việt Nam

Sau khi thắng thế ở kinh thành Huế, buộc triều Nguyễn phải kí Hiệp ước Hác-măng thừa nhận sự bảo hộ của Pháp, quân Pháp bèn quay ra Bắc Kỳ lần lượt đánh chiếm nhiều nơi như: Sơn Tây (16/12/1883), Bắc Ninh (12/3/1884), Thái Nguyên (19/3/1884), Hưng Hóa (12/4/1884), Tuyên Quang (31/5/1884). Có thể nói, đây không chỉ là thất bại của riêng triều đình Huế mà còn là thất bại của chính quan quân nhà Thanh bởi trước đó chúng đã vượt biên giới sang nước ta với chiêu bài “cứu tệ phò nguy” vậy mà phải đứng nhìn những sự xâm lấn ngang nhiên của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Trước tình hình ấy, triều đình nhà Thanh đã chuyển từ thái độ giằng co, tranh chấp sang thái độ thỏa hiệp với Pháp về vấn đề Việt Nam.

Lúc này Pháp tuy đã chiếm được hầu hết Bắc Kỳ nhưng quân Thanh vẫn còn đóng ở Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai. Vì vậy, Pháp muốn dùng con đường đường ngoại giao thay quân sự để chính phủ Thanh công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ. Bấy giờ Pháp thông qua một người Đức là Detring (Đê-tơ-ring) phụ trách thượng chính ở Quảng Đông giúp cho việc thương lượng giữa hai nước Pháp - Trung Quốc. Đê-tơ-ring lại có mối quan hệ vô cùng mật thiết với Tổng đốc Trực Lệ là Lý Hồng Chương - một đại thần có uy thế lớn trong trong triều Thanh lúc bấy giờ. Đến ngày 11 tháng 5 năm 1884, tại Thiên Tân, Lý Hồng Chương - đại diện nhà Thanh và Fournier (Phuốc-ni-ê) - đại diện Pháp đã cùng ký kết hòa ước (thường được gọi là Hiệp ước Phuốc-ni-ê). Theo đó, nhà Thanh cam kết thừa nhận mọi Hiệp ước ký giữa Pháp với Việt Nam và rút toàn bộ quân Thanh về nước; còn Pháp hứa sẽ giữ nguyên hiện trạng biên giới phía Nam của nhà Thanh, không đòi chiến phí, không xúc phạm đến danh dự của nhà Thanh trong những hiệp ước sẽ ký kết với nhà Thanh. Đến lúc này, Pháp gần như có ưu thế quyết định trong quan hệ với Triều đình Huế cũng như Triều đình nhà Thanh. Chỉ 26 ngày sau Quy ước Thiên Tân được ký kết, triều đình Huế đã phải ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt ngày 6/6/1884 với Pháp khẳng định lại những nội dung cơ bản của Hiệp ước Hác-măng trước đó. Lúc này Pa-tơ-nốt - đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Pháp tại Bắc Kinh đã đòi triều đình Huế nộp cho Pháp cái ấn của vua Thanh đã ban cho triều Nguyễn vì theo hiệp ước Phuốc-ni-ê, cái ấn đó không còn lí do để tồn tại ở Việt Nam nữa.

Với triều Nguyễn, cái ấn do vua Trung Hoa ban từ năm 1803 có ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Nó tượng trưng cho sự thần phục của An Nam đối với Trung Hoa. Ấn làm bằng bạc mạ bằng vàng, cạnh từ 10 đến 12 cm, có một núm cầm mang hình con lạc đà nằm, bên trong có khắc chữ: “Việt Nam quốc vương chi ân”. Với thâm ý là muốn làm nhục cả triều đình Huế lẫn triều đình nhà Thanh, Pa-tơ-nốt trước khi kí hòa ước Giáp Thân (6/6/1884) đã đòi thu hồi ấn đó để đem triển lãm tại Tòa khâm sứ ở Huế. Nhưng Thượng thư bộ Hộ Phạm Thận Duật (lúc bấy giờ được sung chức chánh sứ) đã không đồng ý. Để đổi lại việc tỉnh Bình Thuận trở lại Trung Kỳ, trước khi ký hiệp ước Pa-tơ-nốt, hai bên đã đi đến thỏa thuận là đem nấu chảy chiếc ấn đó. Đến dự cuộc lễ nấu ấn ấy, Pa-tơ-nốt một lần nữa muốn thu hồi chiếc ấn để gửi sang Paris khoa trương thanh thế của Pháp với thế giới. Song Chánh sứ Phạm Thận Duật cùng Phó sứ Tôn Thất Phan vẫn kiên quyết từ chối. Kết cục chiếc ấn biểu tượng cho vương quyền Nguyễn và quyền tôn chủ của “Thiên triều” Trung Quốc với “chư hầu” Việt Nam đã bị nấu chảy trước khi buổi lễ ký kết Hiệp ước Giáp Thân (6/6/1884) (16).

Như vậy, đến đây chiếc ấn vua Thanh ban cho Gia Long đã không còn nữa. Quan hệ bang giao giữa triều Nguyễn và triều Thanh chấm dứt cùng với sự chấm hết số phận của chiếc ấn - biểu tượng cho mối quan hệ ấy.

Về phía nhà Thanh, nếu theo Hiệp ước Phuốc-ni-ê năm 1884 phải rút quân về  nước. Nhưng thực tế sau đó nhà Thanh vẫn dùng dằng không muốn thi hành (17). Tháng 5 năm ấy, thống tướng Milliot đã sai tướng Dugenne đem 1000 quân lên thu lại những thành quân Thanh đóng giữ. Song khi quân Pháp đến Bắc Lệ thì quân Thanh lại dàn quân đánh cho thiệt hại nặng. Từ đây, một cuộc chiến tranh Trung - Pháp đã diễn ra quyết liệt, không những ở thượng du Bắc Việt mà ngay cả trên đất Tàu. Trước tình thế không có lợi cho cả hai phía, ngày 9/6/1885, đại diện Pháp là Pa-tơ-nốt và Lý Hồng Chương - đại diện cho nhà Thanh, đã kí Hiệp ước “Hòa bình, hữu nghị và thương mại” tại Thiên Tân (thường gọi là Hiệp ước Thiên Tân Pháp - Trung Hoa năm 1885). Theo đó, nhà Thanh một lần nữa thừa nhận sự thống trị của Pháp ở Việt Nam và cam kết không làm gì có hại đến công cuộc bình định của Pháp, tôn trọng hiện nay và trong tương lai những hiệp ước, hiệp định và thỏa ước đã kí hay sẽ kí trong tương lại giữa Pháp và An Nam. Đồng thời nhà Thanh khẳng định rằng: từ nay quan hệ giữa Trung Quốc với An Nam sẽ không xảy ra điều gì vi phạm hiệp ước này (Điều khoản 2 của Hiệp ước Thiên Tân 1885). Như vậy từ đây chấm dứt hoàn toàn sự có mặt của quân Thanh trên lãnh thổ Việt Nam và quan hệ thượng quốc - chư hầu giữa hai nước Việt - Trung xem như đã khép lại. Và mặc dù với Hiệp ước Thiên Tân, Trung Quốc có giữ được một số quyền lợi thì nó “cũng vẫn đánh dấu sự chấm dứt không điều kiện 2000 năm bọn phong kiến Trung Quốc mưu toan đặt bá quyền của chúng ở Đông Nam Á và mở đầu một thời kỳ mới, thời kỳ mà bọn bành trường, bá quyền Trung Quốc thỏa hiệp với thực dân, đế quốc vì lợi ích riêng của chúng có hại cho nhân dân Việt Nam” (18).

*          *               *

Với tư cách là “phiên quốc”, là “chư hầu” trong quan hệ bang giao với “Thiên triều” Trung Quốc, song suốt thời gian từ năm 1858 đến đầu năm 1882 ta thấy nhà Nguyễn đã không hề cầu viện “Thiên triều” mà đã cố gắng hành động phù hợp với thế giới quan của mình để đương đầu với sự xâm lược của thực dân Pháp. Hơn thế, một vấn đề được đặt ra là: tuy nước Nam và nước Thanh, một bên là Thiên triều, một bên là phiên quốc, nhưng nếu nước Nam lúc này không có quyền tự chủ thì sao nhà Nguyễn có thể nhiều lần ký hòa ước với nước Pháp mà không cần nhà Thanh cho phép hay đồng ý? Tất cả đã chứng minh cho chúng ta thấy được nguyên tắc tự chủ của nhà Nguyễn trong quan hệ bang giao với Trung Quốc đương thời. Rõ ràng cho đến thời điểm này sự thần phục của nhà Nguyễn đối với Trung Quốc chỉ là sự thần phục hình thức, mang tính lễ nghi ngoại giao cốt giữ hòa hiếu giữa hai dân tộc mà thôi.

Đến sau sự thất thủ của thành Hà Nội trước sự công phá của Henri Riviere năm 1882, triều đình Nguyễn mới cử một phái đoàn ngoại giao đứng đầu là Phạm Thân Duật sang cầu cứu nhà Thanh (từ ngày 6/2/1883). Đến đây nhà Nguyễn mới thực sự chính thức cầu viện “Thiên triều” khi tình thế đã rất nguy khốn. Đành rằng có thể thông cảm cho nhà Nguyễn vì lúc này đang ở thế cô, không cầu viện nhà Thanh thì còn cầu viện ai? Và nhìn nhận khách quan thì sự có mặt của quân Thanh ở nước ta lúc này không phải không có tác dụng gì. Song việc nhà Thanh lúc này không tự cứu nổi mình, đang bị nhấn chìm trong những cuộc đấu tranh, nổi dậy của nhân dân trong nước và bị các nước tư bản nước ngoài ra sức xâu xé, mà nhà Nguyễn vẫn chỉ tin tưởng vào sự cứu giúp của nhà Thanh đã chứng minh cho chúng ta thấy tính chất bảo thủ, bất biến trong quan hệ ngoại giao với Thanh triều của triều đình Nguyễn bấy giờ.

Rõ ràng đặt trong thời đại mà Mác và Ănghen gọi là thời đại của giai cấp tư sản, khi mà “Những mối quan hệ toàn diện, sự phụ thuộc toàn diện đối với nhau giữa các dân tộc, đang phát triển, thay thế cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và của các dân tộc vẫn tự cung tự cấp” (19), thì tư tưởng ngoại giao hạn chế trong khuôn khổ chật hẹp của thế giới “văn minh Khổng”: luôn tin tưởng, trung thành với “thiên triều” Trung Quốc của  nhà Nguyễn rõ ràng đã trở nên bảo thủ, lỗi thời so với thời đại mới . Chúng ta có thể khẳng định rằng: các vua nhà Nguyễn lúc này vẫn chưa thoát khỏi quy ước đối ngoại của thế giới phương Đông, tức vẫn thu mình lại, giới hạn mình lại trong cái tầm nhìn đối ngoại khu vực, chủ yếu là với nước láng giềng (mà trước hết là với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc). Phải chăng đó là căn nguyên sâu xa khiến nhà Nguyễn thiếu hẳn sự đổi mới linh hoạt trong các hoạt động ngoại giao giai đoạn này.

CHÚ THÍCH

(1). Yoshiharu Tsuboi: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885. Hội Sử học Việt Nam, Hà Nội, 1992, tr.150.

(2). Chuyến đi sứ này của ta tuy không được ghi lại trong chính sử nhưng được phản ảnh qua nhiều tập thơ đi sứ và các tập tấu văn của các sứ thần tham gia sứ bộ như: Cung kỷ luân âmHà đình ứng chế thi sao của Nguyễn Thuật (Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (DSHNTMĐY), tập 1, tr.363 và 697), Thạch nông văn tập của Nguyễn Tư Giản (DSHNTMĐY, tập 3, tr.113,716 và 718). Đặc biệt là tập Như Thành nhật ký do Lê Tuấn, Hoàng Tịnh và Nguyễn Tư Giản cùng chép (DSHNTMĐY, TẬP 3, TR.504).

(3). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, tập XXXIII, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975, tr.12-22.

(4). Cơ quan giao thiệp với ngoại quốc của nhà Thanh thành lập trong tháng 3 năm 1865 và hoạt động cho đến năm 1901 khi triều đình Bắc Kinh có Bộ Ngoại Giao chính thức.

(5). Tố Am Nguyễn Toại: Những phát hiện mới về triều Nguyễn, NXB Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr.34.

(6). Tố Am Nguyễn Toại: Những phát hiện mới về triều Nguyễn, NXB Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr.153.

(7). Bùi Văn Dị, tự là Ân Niên, hiệu là Châu Giang. Vì thế nên Đại Nam thực lục ghi tên vị Chánh sứ này là Bùi Ân Niên (tập XXXIII, tr.301). Chuyến đi sứ năm 1876 của Bùi Văn Dị còn được phản ảnh qua 4 tập đi sứ là: Vạn Lý hành ngâm, Trí chu thù xướng tập, Du hiên tuỳ bút Đại châu sứ bộ xướng thù. Vạn lý hành ngâm tập hợp khoảng 170 bài thơ do Bùi Văn Dị viết về hành trình đi sứ (DSHNTMĐY. Tập 3, tr.529).

(8). Theo báo cáo của Rheinart, đại diện Pháp ở Huế, gửi công sứ Sài Gòn ngày 19/07/1876, thì mục đích của chuyến đi sứ đã được xác minh: “Sứ bộ sắp đi Trung Hoa năm nay sang bên đó không chỉ để chúc mừng Thiên tử mới mà còn để dâng những cống phẩm mà quốc vương An Nam phải nộp cho Traung Hoa ba năm 1 lần với tư cách là nước chư hầu”. Một báo cáo khác của Kergadarec, lãnh sự Pháp ở Hà Nội, cũng gửi công sứ Sài Gòn, đề ngày 27/09/1876, cũng xác nhận là sứ bộ đi cống theo lệ.

(9). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục chính biên, quyển XXXIV, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975, tr.90,91.

(10). Đoàn sứ bộ này được phản ảnh trong các tập: Vãng sứ Thiên Tân nhật ký, Như Thanh đồ và Kiến Phúc nguyên niên như Thanh nhật trình.(DSHNTMĐY, tập 2, 3; tr.553 và tr.49).

(11). Hoàng Tranh: Trung Việt quan hệ sử nghiên cứu tập cảo, NXB Nhân dân, Quảng Tây, 1992, tr.37.

(12). Thanh Quang Tự triều Trung - Pháp giao thiệp sử liệu, quyển 3, tr.23.

(13). An Nam thông sử trích dịch - Theo bản đánh máy của Viện sử học.

(14). An Nam thông sử trích dịch, tr.118. - Theo bản đánh máy của Viện sử học.

(15). An Nam thông sử trích dịch, tr.239. - Theo bản đánh máy của Viện sử học.

(16). Theo Delvaux trong bài: “Phái bộ Pháp ở Huế và những phái viên đầu tiên”, trong Những người bạn cố đô Huế, 1916, tr.59.

(17). Theo Hoàng Ngọc Thành: Những mối quan hệ giữa Pháp và Trung Hoa về vấn đề Việt Nam (1880-1885), Sài Gòn, 1969, tr.44-45: Hiệp ước không nêu rõ ngày tháng đúng của việc rút quân Trung Hoa ra khỏi Bắc Kỳ mà chỉ nói rằng Trung Hoa cam đoan rút ngay lập tức quân đồn trú tại Bắc Kỳ và trong vòng 3 tháng 1 hoà ước vĩnh viễn sẽ được ký kết giữa 2 nước. Trong khi đại uý Phuốc-ni-ê tin rằng các lực lượng Trung Hoa ở Bức Kỳ sẽ rút lui ngay khi 2 bên ký vào bản hiệp ước, thì tổng đốc Lý Hồng Chương lại cho rằng quân Trung Hoa sẽ rút lui ngay sau khi 1 hoà ước vĩnh viễn được kí kết, chứ không phải sau khi hiệp ước Phuốc-ni-ê được kí. Việc Pháp và Trung Hoa hiểu 1 cách khác nhau về điều khoản quân Trung Hoa rút khỏi Bắc Kỳ đã gây thêm 1 năm chiến tranh tốn kém cho cả 2 nước.

(18). Theo Văn Tạo trong bài “100 năm phản bội Việt Nam từ Hiệp ước Pháp-Hoa (1885)”, Nghiên cứu lịch sử, số 3, 1985, tr.68.

(19). Theo C. Mac - Engghen: Tuyển tập, tập I, NXB Sự thật , Hà Nội, 1962.

 

SUMMARY: The changes in diplomatic ralations between Vietnam and Chiana under the influence of  French colonialism 

In this period, to execute the intention invading Vietnam, after establishing the domination over South Vietnam, French colonialism took their troupes forward North Vietnam, attacked Ha Noi wall and many provinces in South Vietnam’plain. From there, French colonialism wanted to use South Vietnam as a springboard for an attack on Van Nam (a province of China). Facing such difficult circumstances, when French colonialism was a real menace to the interests of two countries, both Vietnam and China not only continued the traditional connection but also apppeared many new manifestations in solving Phap matter. Under the influence of new factor (French colonialism), will the diplomatic relations between Vietnam and China be more attached or loosed?

ThS NGUYỄN THỊ MỸ HẠNH, bài đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHSPHN, số 2/2009
In bài Gửi bài cho bạn
ALBUM ẢNH 
Chùa Thầy
 
 
Lịch tập trung ôn thi hệ liên thông khóa 2
 
ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG SỰ TRUYỀN BÁ CÔNG GIÁO VÀO VIỆT NAM VÀ PHILIPPIN


Bản quyền thuộc Khoa Việt Nam Học
Thiết kế và phát triển bởi C.I.S