Ngôn ngữ

Tìm kiếm

7/9/2010   
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN TỈNH KHÁNH HÒA  
(12/6/2009)

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, kinh tế biển nổi lên như một lĩnh vực thu hút mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia giáp biển. Các ngành kinh tế này không chỉ có đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc dân mà còn giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho khá nhiều lao động tại vùng ven biển, khu vực tập trung dân cư đông đúc.

Đối với Khánh Hòa, một tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, kinh tế biển càng có vai trò quan trọng. Được thiên nhiên ưu đãi một vùng biển giàu có, Khánh Hòa có điều kiện phát triển một nền kinh tế biển hoàn chỉnh với đầy đủ các ngành, các lĩnh vực: thủy sản, du lịch biển, giao thông vận tải biển… Trong những năm gần đây, các lĩnh vực kinh tế này có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn tỉnh.

Bài báo này tập trung phân tích những tiềm năng và hiện trạng phát triển kinh tế biển tại Khánh Hòa, một trong những đầu tàu của kinh tế biển ở Việt Nam. Đồng thời đi sâu phân tích mối quan hệ giữa kinh tế biển và việc phát triển kinh tế toàn tỉnh, đặc biệt ở khu vực ven biển của tỉnh.

II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Các nguồn lợi kinh tế biển ở Khánh Hòa

Đường bờ biển của Khánh Hòa dài 385 km và 135 km đường bờ ven đảo. Vùng biển Khánh Hoà tính từ đường đẳng sâu 200m trở vào bao gồm 10.000 km2 thềm lục địa, 1.000 km2 đầm, vịnh, phá. Đó là chưa tính đến 1.658 km2 đất mặn có thể được khai thác để nuôi trồng thuỷ sản và rừng ngập mặn.

Do đặc trưng địa chất của khu vực, đáy biển ở Khánh Hoà có độ dốc cao, bờ biển không bằng phẳng mà thỉnh thoảng có những nhánh núi ăn sát ra biển. Đường bờ biển Khánh Hoà khúc khuỷu, hình thành nhiều vũng, vịnh, trong đó có ba vịnh lớn: Vịnh Vân Phong có tổng diện tích 435 km2 (rộng 25 km và dài 35km), trong đó có bán đảo Hòn Gốm và Hòn Lớn rộng 13.000 ha. Nước vịnh rất trong với độ sâu trung bình 20 m. Vịnh Nha Trang nước sâu, cát vàng, có nhiều đảo bao quanh nên được xếp là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới. Vịnh Cam Ranh là một vịnh kín do được chắn bởi các đảo và bán đảo nên nước trong và rất yên tĩnh. Diện tích của vịnh là 60 km2 và độ sâu trung bình 18 – 20 m. Ngoài ra, trong vùng biển Khánh Hoà còn có hơn 200 đảo lớn nhỏ ven bờ và quần đảo Trường Sa, một trong hai quần đảo lớn nhất của Việt Nam.

Với diện tích gấp đôi đất liền, vùng biển Khánh Hoà có nhiều nguồn lợi để phát triển kinh tế biển đa dạng và năng động.

- Nguồn lợi thuỷ sản và đặc sản biển

Biển Khánh Hoà có dòng hải lưu Bắc – Nam Thái Bình Dương chảy qua nên khá giàu có về thuỷ sản. Trữ lượng hải sản của vùng biển Khánh Hoà khoảng 150.000 tấn, trong đó 70% là cá nổi. Khả năng khai thác cho phép là khoảng 70.000 tấn/năm. Nguồn thuỷ sản của Khánh Hoà tập trung chủ yếu ở ngoài khơi nên phương thức khai thác chủ yếu là các tàu lớn, có phương tiện bảo quản để có thể đánh bắt dài ngày. Nguồn nhiệt dồi dào còn tạo điều kiện thuận lợi cho san hô phát triển. Tại vùng biển Khánh Hoà, các nhà khoa học đã phát hiện được 350 loài san hô, chiếm 40% tổng số loài san hô trên thế giới.

Ngoài các loài thuỷ sản thông thường như cá, tôm, mực, ốc…, vùng biển Khánh Hoà có có hơn 600 loài đặc sản, trong đó loại có giá trị kinh tế cao nhất là yến sào. Khánh Hoà có 8 đảo yến: Hòn Ngoại, Hòn Nội, Hòn Chà Là, Hòn Hổ, Hòn Rồng… có thể khai thác hàng tấn yến sào một năm, đem lại giá trị xuất khẩu cao và là nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp.

Một hoạt động cũng mang lại thu nhập cho người dân Khánh Hoà là khai thác các loại cá cảnh. Khánh Hoà được coi là “vựa” cá cảnh đẹp nhất nước với sự có mặt gần như đầy đủ các giống cá đẹp của vùng biển nhiệt đới. Vùng biển Khánh Hoà có gần 400 loài cá rạn san hô, có những loài được xếp vào loại quý hiếm của thế giới.

Không chỉ giàu có về thuỷ sản thuận lợi cho đánh bắt ven bờ cũng như xa bờ, vùng biển Khánh Hoà còn có điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Với tám cửa lạch và hai đầm vịnh, khả năng nuôi các loại thuỷ hải sản cả nước mặn và nước lợ của Khánh Hoà là rất lớn. Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản của Khánh Hoà hiện nay là 7500 ha. Ngoài ra, tại vùng đất mặn ven biển, người dân cũng có thể khai thác biến thành các đầm nuôi thuỷ sản, các trại sản xuất tôm giống hay các cánh đồng muối, góp phần đa dạng thu nhập.

- Tài nguyên du lịch biển

Dọc bờ biển Khánh Hoà có nhiều bãi tắm đẹp như bãi Nha Trang (gần trung tâm thành phố), Bãi Tiên (phía Bắc thành phố), bãi Dốc Lết (Ninh Hoà), bãi Đại Lãnh (Vạn Ninh) và Bãi Dài (Cam Ranh). Những bãi tắm của Khánh Hoà đều có nước trong xanh, cát sạch và vàng, lại có những nhánh núi đâm sát ra biển tạo nên những cảnh quan rất kì thú. Khí hậu của Khánh Hoà mang tính chất nhiệt đới tương đối ôn hoà, mùa mưa ngắn. Những điều kiện này đã giúp cho Khánh Hoà thu hút hàng trăm nghìn lượt khách nội địa cũng như quốc tế đến nghỉ mát hầu như quanh năm.

Vùng biển Khánh Hoà tập trung nhiều đảo lớn nhỏ có khả năng tổ chức các hoạt động du lịch trên đảo. Đặc biệt đảo Hòn Tre thuộc khu vực vịnh Nha Trang là một đảo lớn với nhiều bãi tắm đẹp như Bãi Trũ, Bãi Tre, Bích Đầm có khả năng nên một tuyến du lịch đảo hấp dẫn với nhiều hoạt động vui chơi giải trí. Vùng biển quanh các đảo có hệ động thực vật phong phú, nhất là các rạn san hô với nhiều hình thù đa dạng và kì thú có sức hấp dẫn khách du lịch.

Năm 2003, Vịnh Nha Trang được Câu lạc bộ những vịnh biển đẹp nhất thế giới kết nạp là thành viên thứ 29. Với bãi cát mịn, sóng êm và những hòn đảo thơ mộng, vịnh Nha Trang đang trở thành điểm du lịch quan trọng của vùng Nam Trung Bộ.

Vịnh Vân Phong có bãi biển đẹp, bao quanh bởi những cánh rừng nhiệt đới ngút ngàn, lại thêm những rạn san hô và dấu tích của những khu rừng ngập mặn. Đây là những lợi thế để phát triển loại hình du lịch sinh thái trong khu vực. Tổng cục du lịch đã xếp Vân Phong vào “vùng du lịch trọng điểm phát triển”. Vân Phong cũng được Hiệp hội Biển thế giới xếp vào danh sách 4 vị trí du lịch biển lý tưởng hiện nay

- Khả năng phát triển giao thông biển

 Là tỉnh cực Đông của Việt Nam, vùng biển Khánh Hoà nằm gần đường hàng hải quốc tế (vịnh Cam Ranh chỉ cách đường hàng hải quốc tế 1 giờ tàu biển, so với 18 giờ của Hải Phòng) nên có nhiều điều kiện phát triển giao thông biển. Khánh Hoà có nhiều vũng vịnh, đều là những vịnh nước sâu (khoảng 20m), tương đối kín gió rất thuận tiện cho việc xây dựng các cảng nước sâu đón tàu trọng tải lớn. Vịnh Vân Phong đang được quy hoạch thành cảng trung chuyển container quốc tế. Vịnh Cam Ranh đã được xây dựng thành cảng quân sự có ý nghĩa lớn với an ninh quốc phòng. Đây là địa điểm lý tưởng cho các hạm đội hải quân tập trận và chiến đấu. Do vậy, khu vực này luôn thu hút được sự quan tâm của các quốc gia có hải quân mạnh trên thế giới.

2. Đầu tư phát triển kinh tế biển của Khánh Hòa

Dựa trên những thế mạnh tự nhiên, tỉnh Khánh Hoà rất quan tâm đến phát triển kinh tế biển. Năm 1998, Tỉnh uỷ Khánh Hoà đề ra “Chương trình phát triển kinh tế thuỷ sản đến năm 2000” và một số dự án phát triển du lịch biển, giao thông vận tải biển. Năm 2001, Uỷ ban nhân dân tỉnh soạn thảo “Chương trình kinh tế biển giai đoạn 2001 – 2005 và 2006 – 2010”, trong đó nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2010 “xây dựng Khánh Hoà trở thành tỉnh mạnh về kinh tế biển, có cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu với một số ngành kinh tế mũi nhọn, có công nghệ hiện đại, có giá trị xuất khẩu lớn, tạo tích luỹ cao và ổn định, đóng góp lớn cho nền kinh tế của tỉnh. Xây dựng kinh tế – xã hội vùng biển, đảo và ven biển trở thành vùng phát triển năng động, thúc đẩy các vùng trong cả tỉnh phát triển”

Xác định được tầm quan trọng của biển với nền kinh tế của tỉnh, Khánh Hoà tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển kinh tế biển. Từ năm 2001 đến 2005, toàn tỉnh đầu tư 2.530 tỉ đồng, trong đó cho thuỷ sản là 1.103 tỉ, cho giao thông vận tải là 97 tỉ và du lịch là 1.330 tỉ đồng. Tỉnh đã chú trọng vào các công trình trọng điểm hướng tới mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá kinh tế biển. Trong ngành thuỷ sản tập trung vào lĩnh vực nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Ngành du lịch chủ yếu đầu tư cho một số dự án lớn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí mang tầm quốc gia, quốc tế và khu vực. Đối với giao thông, chú trọng phát triển cảng biển và bến thuỷ nội địa. Nhờ vậy, các ngành kinh tế của Khánh Hòa đã đạt được những thành công nhất định trong quá trình phát triển.

3. Sự phát triển các ngành kinh tế biển của Khánh Hoà

3.1. Ngành thuỷ sản

Ngành thuỷ sản Khánh Hoà phát triển dựa trên cơ sở của nguồn lợi thuỷ sản giàu có. Người dân Khánh Hoà có kinh nghiệm và kĩ thuật sản xuất trên biển. Thủy sản Khánh Hoà lại được sự hỗ trợ của khoa học kĩ thuật nhờ các Trung tâm khoa học công nghệ có mặt trên địa bàn tỉnh như Trường Đại học Thuỷ sản, Trung tâm nghiên cứu thuỷ sản III, Viện Hải dương học…

Từ khi mới tái lập, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Khánh Hoà đã rất chú trọng đến ngành thuỷ sản. Với việc xác định nghề cá nhân dân, ngành thuỷ sản đã thực hiện nhiều chính sách và cơ chế phù hợp, huy động được nguồn vốn, tập trung đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường hậu cần nghề cá, nâng cao đời sống nhân dân.

Giá trị sản xuất thuỷ sản của Khánh Hoà luôn có sự gia tăng qua các năm nhưng tốc độ gia tăng không đồng đều. Điều đó phản ánh tính chất của ngành là phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu và nguồn lợi thuỷ sản. Có những năm thuỷ sản của tỉnh có mức tăng trưởng âm như năm 2002 và 2004, nhưng có những năm lại đạt hơn 30%. Mặc dù vậy, thuỷ sản vẫn là một ngành quan trọng của Khánh Hoà. Năm 2005, giá trị sản xuất thuỷ sản của tỉnh theo giá so sánh 1994 là 1186,3 tỉ đồng, cao hơn giá trị sản xuất ngành nông nghiệp (913,7 tỉ đồng). Với giá trị này, thuỷ sản của Khánh Hoà có vị trí khá cao so với cả nước.

Cơ cấu ngành thuỷ sản của Khánh Hoà cũng có sự chuyển biến rõ nét. Những năm trước đây, đánh bắt thuỷ sản có vị trí chủ đạo, chiếm tới 88,28% tổng sản lượng toàn ngành (năm 1992). Nhưng những năm gần đây, tỉ trọng của ngành này giảm mạnh, nhường chỗ cho nuôi trồng thuỷ sản. Cho đến năm 2002, trong cơ cấu ngành thuỷ sản Khánh Hoà, nuôi trồng thuỷ sản đã vươn lên chiếm tỉ trọng cao nhất 47,9%, còn ngành đánh bắt chỉ còn chiếm 46,5%. Dịch vụ thuỷ sản của Khánh Hoà ra đời chậm và chiếm tỉ trọng nhỏ, băt đầu xuất hiện từ năm 1996, đến nay ngành này mới đóng góp 5,6% vào tổng giá trị sản lượng thuỷ sản.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu thực trạng phát triển thuỷ sản Khánh Hoà

Chỉ tiêu

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

Tổng lao động (nghìn người)

47,0

51,5

54,2

58,6

58,5

60,5

64,9

SL khai thác (nghìn tấn)

49,5

50,0

52,0

65,0

66,1

67,6

66,1

Số tàu thuyền

5534

5267

4892

4912

4944

4901

4944

Tổng công suất tàu thuyền

(nghìn CV)

106,3

115,2

108,6

113,6

121,1

123,9

124,3

Diện tích nuôi trồng (ha)

3880

4893

5563

6711

6866

7345

6485

SL nuôi trồng (nghìn tấn)

2,9

3,4

3,8

10,4

12,2

14,7

9,0

Số trại SX tôm giống

631

1033

1019

1112

1134

1260

1282

SLxuất khẩu (nghìn tấn)

19,9

22,9

17,0

22,3

26,9

22,8

23,7

Kim ngạch XK (triệu USD)

52,5

55,3

58,1

96,7

118,8

140,0

153,0

Tổng số vốn (tỉ đồng)

241

127,2

66,0

609,5

322,6

296,0

301,5

(Nguồn: Tạp chí Thủy sản – Số 7/2004)

Ngành thuỷ sản phát triển đã tạo nguồn hàng xuất khẩu lớn cho Khánh Hoà. Năm 2005, thuỷ sản Khánh Hoà xuất khẩu được 49,8 nghìn tấn thuỷ sản các loại với kim ngạch 232 triệu USD, chiếm 55,9% tổng giá trị xuất khẩu của cả tỉnh. Đồng thời đây cũng là ngành tạo nhiều việc làm cho lao động trong tỉnh. Năm 2003, tổng số lao động trong ngành thuỷ sản là 64.900 người, chiếm 12,5% lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế của tỉnh và 28% lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp.

3.2. Ngành du lịch

Ngay từ thời Pháp, Nha Trang đã nổi tiếng là nơi nghỉ mát của rất nhiều du khách. Những bãi tắm như Dốc Lết, Bãi Tiên, Đại Lãnh… đã được xếp vào những bãi tắm đẹp nhất Việt Nam. Cho đến nay, số khách du lịch đến với Khánh Hoà ngày càng đông. Năm 2005, Khánh Hoà đã đón được 902.000 lượt khách du lịch, tăng 29,35% so với năm 2004 với tổng doanh thu là 643,7 tỉ đồng tăng 41,1% so với năm 2004. Đến năm 2006, ngành du lịch của Khánh Hòa đã đạt được chỉ tiêu phát triển đáng mừng với 1.087.000 lượt khách và doanh thu 833.401 triệu đồng. Trong đó đáng chú ý là lượng khách quốc tế có xu hướng tăng mạnh. Nếu năm 1997 mới có 102.000 lượt khách du lịch đến Khánh Hoà thì năm 2005 đã là 248.578 lượt, nâng tỉ trọng khách quốc tế trong tổng số khách du lịch lên 30% và đến năm 2006 là hơn 255.000 lượt. Cơ sở lưu trú tại Khánh Hoà khá hoàn thiện với 233 khách sạn, 4.554 buồng và 10.281 giường, đáp ứng tương đối đầy đủ nhu cầu của khách du lịch.

Với hệ thống đảo ven bờ, Khánh Hoà có nhiều điều kiện phát triển du lịch đảo. Trên các đảo của Khánh Hoà đã xây dựng những trung tâm vui chơi giải trí, tạo nên sản phẩm du lịch đa dạng phục vụ nhu cầu của khách. Những tuyến du lịch này được xây dựng ngày càng nhiều, tiêu biểu như tuyến đảo Trí Nguyên – Hòn Thị – Hòn Hèo, tuyến du lịch vòng quanh khu bảo tồn biển Hòn Mun…

 Một loại hình du lịch mới cũng đang được phát triển ở Khánh Hoà là du lịch lặn biển. Các điểm lặn chủ yếu ở khu vực Hòn Mun, Hòn Tre thuộc khu bảo tồn biển Hòn Mun. Với những rạn san hô nhiều hình thù và nhiều loại cá biển đủ màu sắc, loại hình du lịch này đã và đang thu hút nhiều khách du lịch, nhất là những người ưa thích mạo hiểm và ham mê khám phá.

Việc đầu tư cho du lịch rất sôi động với nhiều dự án lớn. Tỉnh Khánh Hoà cũng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước đang chú ý xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển du lịch. Một số dự án mang tầm quốc gia và khu vực đang được triển khai như đường du lịch Đầm Môn – vịnh Vân Phong, đường vào khu du lịch Dốc Lết, đường từ Sông Lô đến sân bay Cam Ranh, đường lên khu du lịch Hòn Bà… Các doanh nghiệp du lịch cũng đẩy mạnh việc khai thác và xây dựng những khu du lịch mới như Tây Bắc Hòn Tằm, Làng Bãi Trũ - Đầm Gia…

Hiện nay, du lịch đang được đầu tư trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Khánh Hoà. Với việc vịnh Nha Trang trở thành thành viên thứ 29 của Câu lạc bộ những vịnh biển đẹp nhất thế giới, trong thời gian tới, du lịch của Khánh Hoà sẽ tiếp tục phát triển, không chỉ dừng lại ở tầm quốc gia mà còn vươn lên tầm quốc tế. Bởi theo đánh giá của các nhà khoa học và quy hoạch du lịch biển, nếu được đầu tư khai thác, du lịch biển của Khánh Hoà sẽ phát triển không thua kém gì Patttaya của Thái Lan hay Bali của Inđônêxia.

3.3. Giao thông vận tải biển của Khánh Hoà

Với đường bờ biển khúc khuỷu, nhiều vũng, vịnh, Khánh Hoà có lợi thế trong việc xây dựng các cảng nước sâu, có khả năng đón các loại tàu trọng tải lớn. Có thể kể ra một số cảng chính của Khánh Hoà như sau:

- Cảng Nha Trang hiện đang được sử dụng là một cảng đa chức năng phục vụ chuyên chở hành khách và vận tải hàng hoá các loại. Độ sâu của cảng là 8,5m phù hợp với tàu có trọng tải đến 20.000 tấn cập bến. Công suất bình quân của cảng là 6000 hành khách và 420.000 tấn hàng hoá/năm

- Cảng Đầm Môn được xây dựng từ năm 1994 với độ sâu trung bình 12-15 m, có khả năng đón tàu có trọng tải 5000 – 15000 tấn. Đây là cảng chuyên dụng xuất cát của công ty MINEXCO.

- Cảng Hòn Khói thuộc huyện Ninh Hoà là cảng chuyên dùng xuất khẩu muối, kết hợp với cảng hàng hoá, công suất 100.000 tấn/năm. Hiện nay cảng chỉ có một cầu tàu với độ sâu 3.2 m cho phép các tàu nhỏ dưới 1.000 tấn cập bến

- Cảng Ba Ngòi nằm trong địa phận Thị xã Cam Ranh, có một bến tàu được xây dựng từ năm 1949 với độ sâu trước bến 8,5 - 9 m. Hiện nay, tàu có trọng tải 10.000 tấn có thể ra vào cảng. Cảng đảm nhận xếp dỡ, vận chuyển các loại hàng hoá với công suất 300.000 tấn/năm

Ngoài ra tại huyện đảo Trường Sa còn có 2 cảng Trường Sa Lớn và Đá Tây phục vụ cho quân sự và dịch vụ hậu cần nghề cá. Những bến đường thuỷ nội địa cũng được phát triển ở các huyện thị giáp biển góp phần trợ giúp đắc lực cho các cảng biển và giao lưu, vận chuyển hàng hoá giữa các đảo ven bờ.

Hiện nay, vịnh Vân Phong được quy hoạch để xây dựng thành cảng trung chuyển container quốc tế. Dự án này được chia thành nhiều giai đoạn, dự kiến đến năm 2020 Vân Phong có thể trở thành một cảng tầm cỡ quốc tế và khu vực, có khả năng cho tàu có trọng tải 150.000 tấn ra vào. Lượng hàng thông qua cảng sẽ là 170 triệu tấn/năm (tương đương với cảng Singapo hiện nay). Hiện nay, Vân Phong đang làm nhiệm vụ nhập khẩu xăng dầu cho cả nước. Khi kho xăng dầu được xây dựng xong, toàn bộ 12 triệu tấn xăng dầu đang nhập khẩu hàng năm sẽ do Vân Phong đảm nhiệm. Nếu dự án này được hoàn thành sẽ là động lực lớn cho giao thông vận tải nói riêng và kinh tế biển nói chung của Khánh Hoà phát triển vượt bậc. Vân Phong không chỉ là một cảng lớn mà còn là một khu kinh tế tổng hợp có đóng góp lớn vào nền kinh tế của Khánh Hoà.

3.4. Công nghiệp đóng tàu

Trên địa bàn Khánh Hoà có hàng chục cơ sở đóng tàu lớn nhỏ đã có từ trước, nay tiếp tục được đầu tư và phát triển. Trong vài năm gần đây đã xuất hiện những công ty sửa chữa và đóng mới tàu cỡ lớn. Nhà máy đóng tàu có quy mô lớn nhất của Khánh Hoà hiện nay là Công ty TNHH tàu biển Huyndai – Vinashin ở Vân Phong. Với tiềm lực của mình, Công ty có khả năng đóng những tàu biển có trọng tải lớn nhất thế giới. Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Nha Trang hiện đang đóng những chiếc tàu có trọng tải vài ngàn tấn. Đặc biệt, nhà máy đóng tàu Cam Ranh đang được gấp rút xây dựng, có khả năng sửa chữa và đóng mới các tàu trọng tải đến 50.000 tấn. Với những cơ sở như vậy, Khánh Hoà có thể sẽ trở thành trung tâm công nghiệp tàu thuỷ lớn nhất Việt Nam trong tương lai.

4. Mối quan hệ giữa kinh tế biển và sự tăng trưởng kinh tế tại Khánh Hòa

Như những phân tích ở trên, có thể thấy kinh tế biển của Khánh Hòa đã đạt được những thành công nhất định trong quá trình phát triển. Nhờ vào sự phát triển này, trong những năm qua, nền kinh tế của Khánh Hòa đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ. Các ngành kinh tế biển đóng góp 34% trong tổng GDP của tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu kinh tế biển chiếm 60% tổng sản phẩm xuất khẩu của tỉnh năm 2004. Sự phát triển của kinh tế biển đã góp phần vào sự phát triển ổn định kinh tế – xã hội của cả tỉnh, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân của nền kinh tế lên hơn 10%/năm.

Một trong những ảnh hưởng quan trọng của kinh tế biển đến Khánh Hòa là đã tạo sự chuyển biến rõ rệt trong đời sống nhân dân, bởi đa số thu nhập của người dân phụ thuộc vào nguồn lợi biển. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với người nghèo, những người mà sinh kế của họ chủ yếu là nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản hay làm dịch vụ du lịch ở quy mô nhỏ. Ngành thuỷ sản không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Khánh Hoà mà đây còn là nguồn thu nhập chính của một bộ phận dân cư đáng kể của Khánh Hoà. Đặc biệt với cộng đồng dân cư ven biển, đại bộ phận dân cư hoạt động trong lĩnh vực thủy sản. Do đó, sự phát triển của ngành thuỷ sản có ý nghĩa vô cùng to lớn trong cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư cũng như xoá đói giảm nghèo. Ngành du lịch phát triển thu hút rất nhiều lao động. Đó là những nhân viên trong các nhà hàng, khách sạn, những hướng dẫn viên du lịch hoặc những người phục vụ trên các tuyến điểm du lịch. Thu nhập từ du lịch (dù chủ yếu chỉ là làm thuê) cũng khá ổn định và tương đối cao so với người nghèo. Trong điều kiện hoạt động du lịch diễn ra quanh năm, đây là ngành có khả năng tạo việc làm lớn trong thời gian sắp tới.

Vùng ven biển Khánh Hòa cũng là vùng tập trung dân cư đông đúc nên số lượng người nghèo tương đối nhiều. Và một giải pháp thiết yếu cho vấn đề xóa đói giảm nghèo tại khu vực này chính là phát triển mạnh mẽ kinh tế biển.

Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế biển ở Khánh Hòa không phải không có nhữngvấn đề cần quan tâm. Biển mang lại sự thịnh vượng cho người dân Khánh Hòa nhưng còn rất nhiều người chưa ý thức việc phải bảo vệ biển. Sự khai thác tài nguyên quá mức trong những năm gần đây đã khiến cho môi trường biển ở Khánh Hòa đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Sự xuất hiện của nghề cá quy mô nhỏ với những phương tiện đánh bắt hủy diệt là một vấn nạn của địa phương trong quá trình phát triển, ảnh hưởng đến nguòn lợi lâu dài. Hay việc xây dựng những công trình phục vụ cho du lịch, giao thong… không tính toán đến tác động của môi trường cũng đã và đang phá hủy sự bền vững của vùng biển Khánh Hòa. Chính điều này đã khiến cho một số lĩnh vực kinh tế biển của Khánh Hòa (nhất là ngành thủy sản) đang gặp rất nhiều khó khăn trong những năm gần đây.

Dù đã đạt được nhiều thành công nhưng sự phát triển các ngành kinh tế biển của Khánh Hoà vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Số khách du lịch đến với Khánh Hoà chưa thực sự nhiều, xứng với tầm vóc của một khu vực vịnh biển đẹp nhất thế giới. Những cảng biển của Khánh Hoà cũng hoạt động chưa hết công suất hiện có. Trong quá trình phát triển đã bắt đầu xuất hiện sự chồng chéo và ảnh hưởng tiêu cực lẫn nhau giữa các ngành. Để giải quyết được điều này đòi hỏi sự hối hợp chặt chẽ của các ngành và công tác quy hoạch của tỉnh trong thời gian tới.

III. KẾT LUẬN

Như vậy, hầu hết các lĩnh vực kinh tế biển của Khánh Hoà đều đã phát triển. Sở dĩ đạt được điều này không chỉ dựa trên nguòn tài nguyên thiên nhiên phong phú mà còn là thành quả của sự quan tâm đầu tư của tỉnh, của các ban ngành cũng như của cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, những thành công này còn thiếu tính bần vững và chưa thực sự như mong muốn. Vì vậy trong tương lai cần có nhiều sự đầu tư hơn nữa để kinh tế biển của Khánh Hoà thực sự vững mạnh, đóng góp vào sự phát triển vững chắc của toàn tỉnh.

------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

         1. Cục Thống kê tỉnh Khánh Hoà - Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hoà 2000, 2002, 2004

         2. Sở Du lịch – Thương mại Khánh Hoà - Tham luận hội thảo phát triển du lịch bền vững và bảo vệ tài nguyên, môi trường – Tháng 12/2002

         3. Sở thuỷ sản Khánh Hoà - Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản ven biển tỉnh Khánh Hoà thời kì 2001-2010Tháng 5/2001

         4. Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà - Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Khánh Hoà đến năm 2020 – Tháng 5/2005.

         5. Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà - Chương trình kinh tế biển của tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2001 – 2005 và 2006 – 2010 – Tháng 5/2001

         6. Tạp chí Thủy sản – Số 1 và số 7/2004

         7. Hon Mun marine protected area pilot protect – Management plan for the Nha Trang bay marine protected area, Khanh Hoa province, Vietnam

         8. Khanh Hoa Provincial People’s Committee – Socio – economic master plan of Khanh Hoa 1998 – 2010 – April/1998

 

ThS Trần Thị Hồng Nhung, Khoa Việt Nam học, ĐHSP Hà Nội
In bài Gửi bài cho bạn
Các tin đã đưa:
  • SỰ TIẾN BỘ VỀ KHOA HỌC KỸ THUẬT THUỶ LỢI Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NHỮNG NĂM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN 1945 (16/06/2009)
  • MẤY NÉT VỀ NGUỒN VIỆN TRỢ ODA CỦA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM (27/04/2009)
  • Việt Nam đã thực thi đầy đủ và nghiêm túc các cam kết gia nhập WTO (07/11/2008)
  • Ngọc Hồi, vùng đất đang hồi sinh (23/10/2008)
  • Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Bạc Liêu (21/10/2008)
  • Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất gốm sứ ở Bát Tràng hiện nay (13/10/2008)
  • Văn hóa doanh nhân & văn hóa doanh nhân Việt Nam (05/11/2006)
  • Doanh nhân văn hóa luận (05/11/2006)
  • ALBUM ẢNH 
    Chùa Thầy
     
     
    Lịch tập trung ôn thi hệ liên thông khóa 2
     
    ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG SỰ TRUYỀN BÁ CÔNG GIÁO VÀO VIỆT NAM VÀ PHILIPPIN


    Bản quyền thuộc Khoa Việt Nam Học
    Thiết kế và phát triển bởi C.I.S